TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 27 – 02 – 2025.
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thanh Hải;
- Ông Nguyễn Lâm Tới.
Thư ký phiên tòa: ông Trương Quốc Danh – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 327/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QÐST – HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ánh, sinh năm 1989;
- Bị đơn: Ông Lê Thành Sĩ, sinh năm 1988;
Nơi cư trú: tổ 03, ấp Hưng Phát, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Nơi cư trú: tổ 05, khóm 1, phường Chi Lăng, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang
(Bà Ánh có đơn xin vắng mặt, ông Sĩ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Ánh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Lê Thị Ánh và ông Lê Thành Sĩ do cha mẹ hai bên mai mối tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn (phường) Chi Lăng, huyện (thị xã) Tịnh Biên. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống bên gia đình chồng, được một thời gian thì đi làm ở Bình Dương, sau thì về nhà mẹ ruột bà Ánh sinh sống đến năm 2019 thì ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cự cãi, ông Sĩ không chí thú làm ăn, không quan tâm vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Sĩ không thay đổi. Do tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu nên bà Ánh yêu cầu được ly hôn với ông Sĩ.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung chưa thành niên tên Lê Thị Ngọc Muội, sinh ngày 03/12/2016 và Lê Thành Tiến, sinh ngày 05/05/2014. Cháu Muội hiện đang sống với bà Ánh, cháu Tiến hiện đang sống với ông Sĩ. Sau khi ly hôn bà Ánh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Muội, giao cháu Tiến cho ông Sĩ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Sĩ cấp dưỡng và bà Ánh cũng không cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Thành Sĩ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bà Ánh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Sĩ không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Ánh và ông Sĩ là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Ánh đối với ông Lê Thành Sĩ; Về con chung: Giao con chung chưa thành niên của bà Ánh và ông Sĩ là cháu Lê Thị Ngọc Muội, sinh ngày 03/12/2016 cho bà Ánh trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Lê Thành Tiến, sinh ngày 05/05/2014 cho ông Sĩ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Ánh và ông Sĩ đều không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa bà Lê Thị Ánh và ông Lê Thành Sĩ là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý giải quyết.
[1.2] Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, bà Ánh có đơn nộp cho Tòa án với nội dung đề nghị xét xử vắng mặt; ông Sĩ đã nhận được các văn bản tố tụng của tòa án nhưng không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Ánh và ông Sĩ là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lê Thị Ánh và ông Lê Thành Sĩ do cha mẹ hai bên mai mối có làm đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn (phường) Chi Lăng, huyện (thị xã) Tịnh Biên. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống bên gia đình chồng, được một thời gian thì đi làm ở Bình Dương, sau thì về nhà mẹ ruột bà Ánh sinh sống đến năm 2019 thì ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình phù hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cự cãi, ông Sĩ không chí thú làm ăn, không quan tâm vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Sĩ không thay đổi. Do tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu nên bà Anh yêu cầu được ly hôn với ông Sĩ. Bị đơn Lê Thành Sĩ đã được Tòa án nhiều lần triệu tập. Tuy nhiên, ông vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà Ánh và tạo thêm thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà dành cho chồng đã không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Ánh và ông Sĩ không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đông xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Ánh được ly hôn với ông Sĩ.
[2.2] Về con chung:
Bà Lê Thị Ánh và ông Lê Thành Sĩ có hai con chung chưa thành niên tên Lê Thị Ngọc Muội, sinh ngày 03/12/2016 và Lê Thành Tiến, sinh ngày 05/05/2014. Cháu Muội hiện đang sống với bà Ánh, cháu Tiến hiện đang sống với ông Sĩ. Sau khi ly hôn bà Ánh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Muội, giao cháu Tiến cho ông Sĩ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Sĩ cấp dưỡng và bà Ánh cũng không cấp dưỡng nuôi con. Để ổn định việc nuôi con, tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu phát triển bình thường; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ánh, giao con chung chưa thành niên của bà Anh và ông Sĩ là cháu Lê Thị Ngọc Muội, sinh ngày 03/12/2016 cho bà Ánh tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Lê Thành Tiến, sinh ngày 05/05/2014 cho ông Sĩ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:
Đây là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên do bà Ánh không yêu cầu ông Sĩ cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Nguyên đơn bà Ánh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông Sĩ cũng không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí:
Bà Ánh phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Lê Thị Ánh và bị đơn ông Lê Thành Sĩ.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Ánh được ly hôn với ông Lê Thành Sĩ.
- Về con chung: Bà Lê Thị Ánh được tiếp tục tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên của bà Ánh và ông Sĩ là cháu Lê Thị Ngọc Muội, sinh ngày 03/12/2016. Ông Lê Thành Sĩ được tiếp tục tục nuôi dưỡng con chung chưa thành niên của bà Ánh và ông Sĩ là cháu Lê Thành Tiến, sinh ngày 05/05/2014.
Bà Ánh và ông Sĩ cùng các thành viên trong gia đình của mình phải tạo điều kiện cho nhau được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con các chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Thị Ánh phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí án phí Hôn nhân sơ thẩm. Án phí được khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011126 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, bà Ánh đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Trang |
Bản án số 13/2025/HNGĐ – ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ THỊ ÁNH - LÊ THÀNH SĨ
