Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26/6/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận và Bà Hoàng Thị Thu Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 04 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HPT ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh ngày: 21/02/1993; Số CCCD: [...], cấp ngày: 22-4-2021, nơi cấp: Cục Q về TTXH, Bộ C; Nghề nghiệp: Nhân viên dự toán Công ty F;

Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

Nơi tạm trú và chổ ở hiện nay: Số nhà B Ký túc xá gia đình Công ty F, tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh ngày: 22/05/1986; Số CCCD: [...], cấp ngày: 22-04-2021, nơi cấp: Cục Q về TTXH, Bộ C; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do;

Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

Nơi tạm trú và chổ ở hiện nay: Số nhà B Ký túc xá gia đình Công ty F, tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày như sau:

Về tình cảm: Chị với anh Lê Văn N tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/10/2016, tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được khoảng thời gian hơn 01 năm 06 tháng thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, chị đã làm đơn xin ly hôn ra Tòa án nhưng sau đó do con còn nhỏ nên rút đơn khởi kiện về. Nguyên nhân xảy ra mẫu thuẫn do chồng ghen tuông vô cớ, thường xuyên dọa đánh đập, chửi bới, xúc phạm, lăng mạ. Vợ chồng chưa ly thân nhưng không quan tâm gì đến nhau và tháng 4 năm 2025 đến nay thì sống ly thân, anh Lê Văn N về sinh sống tại quê nhà ở Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Chị M nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn N.

Về con chung: Quá trình hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung là Lê Trần Tiến D, sinh ngày: 10/06/2017. Hiện nay, cháu D đang học tại Trường Tiểu học, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chị M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh Lê Văn N cấp dưỡng nuôi con chung. Vợ chồng không ai có con riêng và cũng không nhận ai làm con nuôi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Văn N trình bày như sau:

Tại bản tự khai ngày 28-04-2025, Biên bản công khai tài liệu, chứng cứ; Biên bản hòa giải ngày 28/04/2025 anh Lê Văn N trình bày: Anh N thống nhất về thời điểm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và xác nhận vợ chồng có 01 con chung, không ai có con riêng và cũng không nhận con nuôi. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được 8 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi (N) ghen tuông với chị M nên thỉnh thoảng vợ chồng có cãi vã nhau. Anh nhận thấy vẫn còn tình cảm với chị M nên anh mong muốn chị M quay về đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái nên không đồng ý ly hôn với chị M. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay anh đang kinh doanh buôn bán có thu nhập ổn định, có thời gian để chăm sóc con; về nợ chung và tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Lê Văn N; Về con chung: Giao con chung cháu Lê Trần Tiến D cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng về nuôi con nên miễn xét; Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét; Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Trần Thị M có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Văn N. Anh Lê Văn N có đăng ký tạm trú và chổ ở hiện nay tại số nhà B Ký túc xá gia đình Công ty F thuộc tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Anh Lê Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh N vắng mặt lần thứ nhất, lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Trần Thị M và anh Lê Văn N kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/10/2016, tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là UBND xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh) là quan hệ hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, hay cãi vã, không còn tin tưởng, nghi ngờ, ghen tuông lẫn nhau; Chị M cho rằng chồng ghen tuông vô cớ, thường xuyên dọa đánh đập, chửi bới, xúc phạm, lời lẽ lăng mạ, không quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn và nhất quyết ly hôn, không mong muốn trở về đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Lê Văn N.

[3.2]. Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Lê Văn N có 01 con chung cháu Lê Trần Tiến D, sinh ngày: 10/06/2017, hiện đang ở với chị Trần Thị M tại số nhà B Ký túc xá gia đình Công ty F, thuộc tổ dân phố L, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh và đang là học sinh lớp tiểu học Trường Tiểu học, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Chị Trần Thị M và anh Lê Văn N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và đều không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu, nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị Trần Thị M, anh Lê Văn N là chính đáng, các đương sự đều có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con chung, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Chị Trần Thị Minh H đang có công việc, lương thu nhập ổn định, là kỹ sư tại Công ty F và đang sinh sống tại khu nhà Ký túc xã thuộc Công ty F; Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D, chị M thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người mẹ, gần gũi và quan tâm đến cuộc sống hàng ngày, việc học hành của con; Hiện nay cháu D đang học sinh tiểu học ở gần nơi sinh sống và cháu có nguyện vọng xin được ở với mẹ để thuận lợi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo điều kiện tốt nhất về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái và không làm xáo trộn sinh hoạt, học tập của cháu D, cũng như xét nguyện vọng của cháu là mong muốn được ở với mẹ, nên giao cháu Lê Trần Tiến D, sinh ngày 10/06/2017 chi Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Chị Trần Thị M không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Lê Văn N không có yêu cầu đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4]. Về án phí: Chị Trần Thị M là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Lê Văn N.

2. Về con cái: Giao con chung cháu Lê Trần Tiến D, sinh ngày: 10/06/2017 cho chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị M về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Trần Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...], thanh toán trực tuyến tạm ứng án phí NYALXJ3CKB ngày 11-04-2025 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008491 ngày 07-05-2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Dũng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Thạch

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger