|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 5 - 2025 Về việc: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; bà Nguyễn Thị Hệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 09/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu Hiền, sinh năm 1990. HKTT: Đội 1, thôn 1, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Tạm trú: 30/91 Phù Lưu, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Bùi Văn Duy, sinh năm 1985. HKTT: Đội 1, thôn 1, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Hiện đang chấp hành án tại: Đội 25, phân trại số 3, trại giam Thanh Phong, xã Tế Lợi, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Bùi Thị Phương Thảo, sinh ngày 16/4/2010.
Người đại diện hợp pháp cho cháu: Chị Trần Thị Thu Hiền - Mẹ đẻ.
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị Hất, sinh năm 1951. Trú tại: 30/91 Phù Lưu, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Bà Nguyễn Thị Hường, sinh năm 1962. Trú tại: Đội 1, thôn 1, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu Hiền trình bầy:
Chị và anh Bùi Văn Duy kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên ngày 08/9/2009. Sau kết hôn, vợ chồng sống cùng bố mẹ anh Duy tại xã Quảng Châu, chị làm may cho công ty tư nhân Phú Khang, anh Duy không làm gì, đi chơi suốt ngày, đến khi chị có thai được mấy tháng thì anh vào Nam làm cho chú anh. Ở trong Nam được thời gian ngắn thì chú thông báo về nhà là anh Duy bị bắt đi cai nghiện 07 năm. Sau khi chị sinh con được 07 ngày, chị xin phép bố mẹ chồng về nhà đẻ ở Thanh Hóa. Thời gian anh Duy đi cai nghiện 07 năm, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm nhau. Đến khi con gái nghỉ hè lớp 2, anh Duy về bảo cho anh cơ hội nên hai mẹ con ra ngoài Bắc ở cùng anh. Vợ chồng chung sống với nhau được mấy tháng, anh Duy vẫn mải chơi bời nên chị quyết định hai mẹ con quay về ngoại. Anh Duy có vào Thanh Hóa tìm hai mẹ con, chị cương quyết không về ở với anh nữa. Khoảng năm 2019 anh Duy bị bắt đi tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong, Thanh Hóa. Chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng với anh Duy không còn hạnh phúc, anh không mang lại hạnh phúc cho chị. Nên chị xin ly hôn anh Duy.
Bị đơn anh Bùi Văn Duy trình bầy:
Anh và chị Trần Thị Thu Hiền tự nguyện kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống ở xã Quảng Châu. Anh là lao động tự do, chị Hiền làm công nhân, cuộc sống hạnh phúc. Năm 2019 anh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 02 năm tù. Từ đấy vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Ngày 17/10/2023, anh bị bắt về tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù. Hiện tại anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong. Nay, chị Hiền có đơn xin ly hôn, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị Hiền và anh Duy có 01 con chung là Bùi Thị Phương Thảo, sinh ngày 16/4/2010, đang ở với chị Hiền. Khi ly hôn anh chị đều nhận nuôi con. Chị Hiền tự nguyện không yêu cầu anh Duy cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
Về tài sản, nợ chung: Chị Hiền và anh Duy đều khẳng định không có, không yêu cầu giải quyết.
Cháu Bùi Thị Phương Thảo trình bày:
Nhiều năm nay, cháu ở với mẹ tại Thanh Hóa, mẹ bảo bố mẹ không ở được với nhau, bố đi làm xa. Nay mẹ Hiền xin ly hôn bố Duy, cháu xin ở với mẹ.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Hất trình bày:
Bà là mẹ đẻ chị Hiền, mẹ vợ anh Duy. Vợ chồng chị Hiền tự nguyện kết hôn với nhau, gia đình bà không ép buộc. Sau kết hôn, anh chị chung sống cùng bố mẹ anh Duy ở ngoài Bắc. Đến khi chị Hiền sinh con được có mấy ngày thì hai mẹ con về nhà bà ở. Thấy chị Hiền có nói lại là không có ai chăm hai mẹ con, anh Duy lại bị bắt đi cai nghiện trong miền Nam 07 năm. Sau khi anh Duy đi cai nghiện về có vào tìm hai mẹ con chị Hiền, hai mẹ con ra ngoài Bắc ở được mấy tháng lại quay về nhà bà ở cho đến nay. Anh Duy có vào tìm, chị Hiền cương quyết không quay về. Gần đây, thấy chị Hiền bảo anh Duy bị bắt đi tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy từ năm 2019, đến nay chưa ra tù. Nay, chị Hiền xin ly hôn anh Duy, bà mong muốn Tòa án xử cho chị Hiền được ly hôn, để chị và con ổn định cuộc sống sau này. Vợ chồng chị Hiền có 01 con chung là Bùi Thị Phương Thảo. Khi ly hôn, anh chị tự giải quyết về con chung. Chị Hiền và con ở nhà bà thì gia đình luôn tạo điều kiện về chỗ ăn ở cho hai mẹ con, không yêu cầu anh Duy chị Hiền trả công sức trông nom, chăm sóc cháu. Anh chị không có tài sản hay nợ chung gì với gia đình bà.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Hường trình bày:
Bà là mẹ đẻ anh Duy, mẹ chồng chị Hiền. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn, gia đình bà không ép buộc. Sau kết hôn vợ chồng anh Duy ở cùng gia đình bà. Khi chị Hiền mang thai, anh Duy vào trong Nam làm ăn thì mắc nghiện phải đi cai nghiện trong đó. Chị Hiền sau khi sinh con được mấy tháng chị cho con về nhà đẻ ở Thanh Hóa. Anh Duy cai được nghiện có vào trong Thanh Hóa tìm vợ con quay về nhà bà ở được mấy tháng chị Hiền cho hai mẹ con vào lại Thanh Hóa. Khoảng năm 2022, anh Duy bị xử phạt tù 03 năm về tội Trộm cắp tài sản. Hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong. Chị Hiền xin ly hôn anh Duy và nhận nuôi con. Việc nuôi con do anh chị tự giải quyết. Vợ chồng anh Duy không có tài sản, nợ chung với gia đình bà.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Duy có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vì anh đang chấp hành án trong Trại giam nên Tòa án đã không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:
- + Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa. Nguyên, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hiền và anh Duy. Về con chung: Giao cháu Thảo cho chị Hiền nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hiền không yêu cầu anh Duy cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị Hiền và anh Duy phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Trần Thị Thu Hiền xin ly hôn với anh Bùi Văn Duy có địa chỉ: Đội 1, thôn 1, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Tại thời điểm giải quyết vụ án anh Duy đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Tại phiên tòa nguyên, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Thu Hiền và anh Bùi Văn Duy kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên ngày 08/9/2009, như vậy hôn nhân giữa chị Hiền và anh Duy là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hiền:
Chị Hiền, anh Duy, cũng như đại diện hai bên gia đình, đều khẳng định trong cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn tình cảm. Nguyên nhân là do anh Duy chơi bời dẫn đến nghiện ma túy. Năm 2019 anh Duy bị xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Năm 2023 anh lại bị xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hiền và anh Duy đều xác định vợ chồng chủ yếu sống xa nhau, không còn tình cảm, chị Hiền xin ly hôn, anh Duy đồng ý. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa hai anh chị.
[2.3] Về con chung:
Anh chị có một con chung là Bùi Thị Phương Thảo, sinh ngày 16/4/2010. Chị Hiền và anh Duy đều nhận nuôi cháu. HĐXX xét thấy hiện anh Duy đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong, Thanh Hóa không thể trực tiếp nhận nuôi cháu được. Mặt khác, từ nhỏ đến giờ cháu Thảo ở cùng chị Hiền và đang học tập tại thành phố Thanh Hóa. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Thảo cho chị Hiền chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh thực tế hiện nay của anh chị và phù hợp với nguyện vọng ở với mẹ của cháu Thảo. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hiền không yêu cầu anh Duy cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Nếu anh Duy không nhất trí về cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung:
Chị Hiền và anh Duy không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Trần Thị Thu Hiền anh Bùi Văn Duy cùng phải chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Chị Hiền có đơn tự nguyện chịu cả phần án phí cho anh Duy. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị Hiền nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Thu Hiền và anh Bùi Văn Duy.
- [2]. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Phương Thảo, sinh ngày 16/4/2010 cho chị Trần Thị Thu Hiền nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hiền không yêu cầu anh Duy phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Anh Duy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Nếu sau này anh Duy có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- [3]. Về tài sản chung: Đương sự không có, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [4]. Về án phí: Chị Trần Thị Thu Hiền tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí sơ thẩm, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000305 ngày 02/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Hoàn trả chị Hiền số tiền 150.000 đồng.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Chị Hiền và anh Duy được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiền - Duy
