Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/03/2025

“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Việt Anh
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỹ
Bà Nguyễn Thị Dứa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Quang – Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND Q. Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm A – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 656/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08 ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07 ngày 05 tháng 03 năm 2025, về việc “Xin ly hôn” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y – sinh năm 1986.

ĐKHKTT: Tổ B phường T, quận H, Hà Nội.

Trú tại: Số B ngõ C phố N, tổ B phường T, quận H, Hà Nội (Chị Nguyễn Thị Y có mặt).

- Bị đơn: Anh Vũ Duy T – sinh năm 1982.

ĐKHKTT: Tổ B phường T, quận H, Hà Nội.

Trú tại: Số B ngõ C phố N, tổ B phường T, quận H, Hà Nội (Anh Vũ Duy T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Chị và anh T tự nguyện lấy nhau và có đăng ký kết hôn ngày 17/04/2007 tại UBND phường T, quận C, Hà Nội. Trước đó chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi lấy nhau vợ chồng mua đất và chuyển về ở tại tổ B phường T, quận H, Hà Nội.

Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu vợ chồng cũng chưa có mâu thuẫn gì lớn, tuy nhiên trong cuộc sống hôn nhân do không có sự chia sẻ vơi nhau nên vợ chồng hay cãi vã, sự việc kéo dài ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là khoảng thời gian dịch Covid xảy ra, anh T hay uống rượu, đập phá đồ đạc, thậm chí có lúc đe doạ tinh thần của chị, chị đã cố gắng chịu đựng bao năm cũng chỉ mong con có gia đình đầy đủ cả bố và mẹ, tuy nhiên việc chị nhẫn nhịn chịu đựng anh T không thông cảm và không chia sẻ, đến nay chị xác định không thể chịu đựng thêm được nữa, tình cảm cũng không còn nên chị xin ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Vũ Minh H – sinh ngày 16/02/2010. Chị có nguyện vọng xin nuôi con và đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con từ 2-3 triệu đồng mỗi tháng.

- Về tài sản chung, nhà đất ở chung: Vợ chồng có 01 căn nhà nhưng nguyện vọng của chị là được tự thoả thuận với anh T để lại nhà cho con và không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Y trình bày chị không có khoản nợ chung nào với anh T.

* Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Vũ Duy T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc, không thể hiện ý kiến, không giao nộp, không cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không tham gia các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa theo thông báo của Tòa án.

Tại phiên tòa ngày 05/03/2025, bị đơn anh Vũ Duy T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Vũ Duy T. Về con chung, chị và anh T có 01 con chung là Vũ Minh H – sinh ngày 16/02/2010, chị xin nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/01 tháng.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung: Chị Y đề nghị được tự thoả thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Y trình bày chị và anh T không có khoản nợ chung nào.

Bị đơn anh Vũ Duy T tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Đại diện VKSND quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

+ Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Tại phiên tòa, HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.

+ Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các thông báo, giấy báo của Tòa án. Bị đơn không đến Tòa án cung cấp tài liệu, chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Đề xuất hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Y xin ly hôn với anh T, anh T không đến Tòa án làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có ý kiến đoàn tụ gia đình. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng anh T và chị Y đã thực sự trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Y. Cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Vũ Duy T.

Về con chung: Chị Y và anh T có 01 con chung là Vũ Minh H – sinh ngày 16/02/2010. Chị Y xin nuôi con, anh T không có ý kiến gì về con, cháu H cũng có ý kiến xin ở với mẹ, do vậy đề nghị HĐXX xem xét giao cho chị Y nuôi con chung.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y xin nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng mỗi tháng. Chị Y không chứng minh được điều kiện về thu nhập của anh T. Tuy nhiên việc chị Y yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng /01 tháng là phù hợp và thể hiện trách nhiệm của anh T đối với con chung, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Y đối với anh T.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Chị Y trình bày chị đề nghị được tự thoả thuận với anh T về vấn đề tài sản. Về nợ chung không có. Anh T không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu giải quyết tài sản chung hay nợ chung nên đề nghị HĐXX xem xét giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho anh T nếu anh T có yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Vũ Duy T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Duy T có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn với anh Vũ Duy T. Anh T có hộ khẩu thường trú tại tổ B phường T, quận H, Hà Nội và chỗ ở tại số B ngõ C phố N, tổ B phường T, quận H, Hà Nội. Vì vậy, yêu cầu của chị Y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn anh T vắng mặt không có lý do lần thứ hai nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

{2} Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Y: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Duy T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 17/04/2007 tại U, quận C, Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81 năm 2007. Do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ lời trình bày của chị Y, cùng với biên bản làm việc cũng như các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị Y, anh T là do bất đồng về suy nghĩ và quan điểm sống dẫn đến việc vợ chồng không có tiếng nói chung, không chia sẻ và không tôn trọng nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị Y đã làm đơn xin ly hôn với anh T. Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng của chị Y và anh T là không thể khắc phục được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Y. Cho chị Nguyễn Thị Y được ly hôn với anh Vũ Duy T.

{3} Về con chung: Căn cứ lời khai của các đương sự và Giấy khai sinh của con chung. Xác định chị Y và anh T có 01 con chung là Vũ Minh H – sinh ngày 16/02/2010.

Xét nguyện vọng nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị Y:

Cháu H đã trên 07 tuổi, cháu H cũng có ý kiến xin ở với mẹ. Chị Y xin ly hôn và xin nuôi con, anh T cũng không có đến Toà án thể hiện quan điểm, ý kiến về con. Do vậy HĐXX xét thấy điều kiện hoàn cảnh của con chung nên giao cháu H cho chị Y được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, chị Y không thể chứng minh mức thu nhập của anh T, tuy nhiên để nuôi con phù hợp với điều kiện trẻ em sinh hoạt và học tập thì yêu cầu mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng là điều kiện cơ bản nên cần chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Y. Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

{4} Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Chị Y trình bày bà đề nghị được tự thoả thuận với anh T về vấn đề tài sản. Về nợ chung thì anh chị không có nợ chung, do vậy chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh T không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu giải quyết tài sản chung hay nợ chung nên HĐXX không xét và giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho anh T nếu anh T có yêu cầu.

{4} Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 khoản 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Anh Vũ Duy T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

{5} Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Duy T có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ: Điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 khoản 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Y. Cho chị Nguyễn Thị Y ly hôn với anh Vũ Duy T.

Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Duy T có 01 con chung là Vũ Minh H – sinh ngày 16/02/2010.

Giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Anh T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung, nợ chung: Chị yến trình bày bà đề nghị được tự thoả thuận với anh T về vấn đề tài sản. Về nợ chung thì anh chị không có nợ chung, do vậy chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh T không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu giải quyết tài sản chung hay nợ chung nên HĐXX không xét và giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho anh T nếu anh T có yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị Y đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0033686 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Xác nhận bà chị Nguyễn Thị Y đã nộp đủ 300.000 đồng.

Anh Vũ Duy T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Vũ Duy T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND. THA Q. Hoàng Mai;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - UBND phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội (GCNKH số 81 ngày 17/04/2007);
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Việt Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger