|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 V/v Ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu
2. Ông Phạm Viết Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký TAND huyện Yên Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 24/6/2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc Ly hôn và nuôi con chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03/6/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thiều Thị H, sinh năm: 1992. Vắng mặt.
Địa chỉ: Hẻm A, Tổ I, Đường V, khu phố C, phường T, thanh phố D, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: Anh Lê Đình Đ, sinh năm: 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của chị Thiều Thị H ngày 24/12/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Thiều Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Đình Đ xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện. Đăng ký kết hôn ngày 29/10/2012 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến cuối năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ thường xuyên cờ bạc, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, còn đánh chị nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vì vậy, chị đã mang con vào Miền nam sống cùng bố mẹ chị. Từ đó anh Đ cũng không quan tâm hỏi thăm động viên vợ con hay chu cấp gì. Sau khi mâu thuẫn xảy ra cũng đã được gia đình hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng không thể hoà hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân 10 năm nay. Từ khi ly thân đến nay không ai quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị làm đơn xin được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là Lê Đình P, sinh ngày 09/10/2013. Hiện nay cháu P đang ở với chị. Chị H có nguyện vọng nuôi con. Về cấp dưỡng, chị H không yêu cầu.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh Lê Đình Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không có lời khai của anh Đ và không tiến hành hòa giải được. Quá trình giải quyết Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án và các giấy triệu tập đương sự, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đ. Anh Đ và gia đình đã nhận được nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng tại UBND thị trấn Y theo quy định.
Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2025 bà Nuyễn Thị V là mẹ đẻ anh Đ cho biết: Chị H và anh Đ kết hôn với nhau vào ngày 29/10/2012 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn chị H và anh Đ sống cùng gia đình ông bà tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mỗi khi bàn bạc công việc làm ăn thường không đi đến thông nhất dẫn đến vợ chồng cải nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra gia đình đã hoà giải nhưng không thành.Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2014. Chị H bỏ nhà mẹ đẻ ở, còn anh Đ đi làm ăn xa thỉnh thoảng có về nhà thăm gia đình. Quá trình Toà án thụ lý giải quyết đã gửi thông báo cho anh Đ, anh Đ biết việc chị H làm đơn ly hôn, anh Đ cũng đồng ý ly hôn, còn hạnh phúc của hai con thì tuỳ các con quyết định.
Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Lê Đình P, sinh ngày 09/10/2013. Hiện nay cháu P đang ở với chị H. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản và công nợ: Tài sản và công nợ không có gì.
Tại phiên tòa: Anh Đ vắng mặt. Chị H gửi đơn xin xét xử vắng mặt, quan điểm chị vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn và nuôi con, về tài sản chung và nghĩa vụ chung không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS; Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, đề nghị xử cho chị H được ly hôn anh Lê Đình Đ. Về con chung: Giao cháu Lê Đình P, sinh ngày 09/10/2013 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng, chị H không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
{1} Về tố tụng:
1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ theo chứng cứ, tài liệu do nguyên đơn cung cấp, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn của chị H và anh Đ là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS.
1.2. Về sự vắng mặt của các đương sự:
Tại phiên tòa anh Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt. Chị H vắng mặt, đã có đơn xin đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
{2} Về nội dung:
2.1 Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh Đ không quan tâm đến gia đình, không chăm lo cho vợ con. Đó là nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không thể hàn gắn được.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh Đ sống ly thân từ năm 2014 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. Về phía anh Đ không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ, chứng tỏ anh Đ cũng không thiết tha đến hạnh phúc của mình. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp.
2.2 Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Lê Đình P, sinh ngày 09/10/2013. Nguyện vọng của chị H được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng. HĐXX xét thấy: Lâu nay chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Anh Đ không quan tâm đến việc ăn ở, học hành của con. Khi giải quyết ly hôn anh Đ cũng không đến Tòa án để bày tỏ nguyện vọng của mình về nuôi con. Cháu P cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Căn cứ tình hình hiện tại, để đảm bảo lợi ích của con trẻ nên giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
2.3. Về tài sản và công nợ chung: Chị H trình bầy vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
2.4. Về án phí: Chị H khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Thiều Thị H.
Về hôn nhân: Chấp nhận chị Thiều Thị H được ly hôn anh Lê Đình Đ.
Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung. Giao cho chị Thiều Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Đình P, sinh ngày 09/10/2013. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu.
Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị Thiều Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị H đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai thu số 000191 ngày 25/12/2024. Chấp nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị H, anh Đ trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
