Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23 - 6 - 2025

“V/v Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Trần Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/06/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tăng Thị L, sinh năm 1997; Số CCCD: [...]; Trú tại: Thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1993; CMND số: [...]; Trú tại: B T, tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2025, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Tăng Thị L trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh Hòa kết H1 với nhau từ năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng vào năm 2016, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng nhà cha mẹ chồng tại tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp.

Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm hay có trách nhiệm gì với nhau. Từ tháng 05/2024 bà đã dọn về nhà cha mẹ tại thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam sinh sống, còn ông H cùng con là Nguyễn Thanh H2 hiện sống cùng nhà cha mẹ ông H tại quận N, thành phố Đà Nẵng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 29/4/2016, hiện cháu H2 đang ở chung với ông Nguyễn Thanh H và đang học lớp 3 trường Tiểu học L1, phường H, quận N. Do đó để đảm bảo điều kiện học hành cho con, bà đề nghị giao con cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh Hòa đồng T1 đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để động viên vợ chồng về chung sống với nhau nhưng ông H không tham gia và cũng không có ý kiến phản hồi về vụ án.

* Biên bản xác minh ngày 15/5/2025 tại tổ dân phố số D, phường H, quận N thể hiện: Ông Nguyễn Thanh H hiện cư trú tại tổ D, phường H; Về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm, hiện nay vợ chồng ông H, bà L không chung sống với nhau, bà L đã chuyển đi nơi khác sinh sống.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền, quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các bước thủ tục tố tụng. Bị đơn Nguyễn Thanh H đã được thông báo về vụ án, tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không đến Tòa án, không có văn bản trình bày. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Tăng Thị L và ông Nguyễn Thanh H đã đến mức trầm trọng, sau khi được thông báo về vụ án, ông H không liên hệ với Tòa án để phản hồi hay trình bày mong muốn được đoàn tụ gia đình. Biên bản xác minh tại địa phương cũng thể hiện vợ chồng bà L, ông H không chung sống cùng nhau, điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị L cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H. Đối với vấn đề con chung, hiện nay cháu Nguyễn Thanh H2 đang sống cùng ông H và học tập tại phường H, do đó để không xáo trộn cuộc sống con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L về việc giao con chung ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn xác định không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu, yêu cầu của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về các vấn đề của vụ án như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thanh H cư trú tại tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, gửi đầy đủ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án và không có ý kiến phản hồi. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tăng Thị L và ông Nguyễn Thanh Hòa kết H1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, theo bà L nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hòa hợp. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã gửi văn bản thông báo, mời lên hòa giải và triệu tập tham gia các phiên tòa nhưng ông H đều không tham gia, điều này thể hiện ông không còn thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tòa án cũng đã nhiều lần hòa giải, động viên về đoàn tụ gia đình nhưng bà L không đồng ý. Hiện vợ chồng cũng không còn chung sống với nhau điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

[2.2] Về con chung: Giữa bà L và ông H có 01 con chung là Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 29/4/2016. Theo cung cấp của bà L thì hiện cháu H2 đang học lớp 3 trường Tiểu học Lê Văn H3 và đang sống cùng gia đình ông Nguyễn Thanh H tại địa phương. Do đó để tránh xáo trộn trong cuộc sống và sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Tăng Thị L, giao con chung cho ông Nguyễn Thanh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với vấn đề cấp dưỡng, tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Tăng Thị L đều từ chối cấp dưỡng nuôi con, vấn đề này ông H cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không tuyên buộc trách nhiệm cấp dưỡng. Khi phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày không có và bị đơn cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[4] Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn được thực hiện theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị L đối với ông Nguyễn Thanh H về việc ly hôn và nuôi con chung.

* Xử:

1/ Về hôn nhân: Bà Tăng Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H

2/ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 29/4/2016 cho ông Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Tăng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về tài sản chung: Nguyên đơn trình bày không có nên không xem xét.

4/ Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung nên không xem xét.

5/ Về án phí: Bà Tăng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003720 ngày 24/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (Bà L đã nộp đủ án phí).

6/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận NHS;
  • - UBND P. Hòa Hải;
  • (Đk ngày 08/4/2016)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Đoàn Công Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa Tăng Thị L và Nguyễn Thanh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger