Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/01/2025
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG -TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phạm Hồng Sơn
2. Bà: Trần Thị Hà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên toà: Ông Hán Tấn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 307/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXX-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐ- HPT ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Ung Thị H, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1979
    Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ung Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Trước đây tôi với ông Hồ Văn T tìm hiểu yêu thương và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2004 nhưng đến năm 2006 tôi với ông T mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 187; Quyển số I ngày 29 tháng 8 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thị trấn L). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến khoảng năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau mà nguyên nhân là do ông T thường có lời nói xúc phạm tôi, vì con nên tôi cố nhẫn nhịn chung sống trong một thời gian dài, vì nghĩ rằng thời gian sẽ làm cho ông T có sự thay đổi về tính tình, quan tâm chăm lo cho vợ con. Tuy nhiên, đến năm 2022, vợ chồng lại có sự mâu thuẫn và ngày càng trở nên gay gắt, cuộc sống chung thường hay xảy ra xung đột, mỗi lần vợ chồng cải nhau thì ông T đập phá tài sản, đe dọa và chưởi bới tôi. Vì không thể chịu đựng được cách đối xử của ông T đối với tôi nên tôi đã không còn chung sống với ông T khoảng 02 năm nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống.

Nay, tôi nhận thấy cuộc hôn nhân này đã có sự mâu thuẫn trầm trọng, không hàn gắn lại được, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tôi cũng không còn tình cảm với ông T, nên nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Hồ Văn T.

- Về con chung: tôi và ông Hồ Văn T có 02 người con chung tên Hồ Như Y, sinh năm 2005, Giới tính: Nữ (đã trưởng thành) và Hồ Ý V, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2015, Giới tính: Nữ. Hiện nay, tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc Hồ Ý V.

Khi ly hôn, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con chung tên Hồ Ý V cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu ông Hồ Văn T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Hồ Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Hồ Văn T đều từ chối nhận và không có mặt tại Tòa để trình bày ý kiến.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa:

Về việc kiểm sát tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Ung Thị H. Bà Ung Thị H được ly hôn với ông Hồ Văn T; Về con chung: Giao người con chung tên Hồ Ý V cho bà Ung Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Do bà Ung Thị H không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Bà Ung Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Ung Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hồ Văn T. Bị đơn ông Hồ Văn T có nơi đăng ký thường trú tai khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Nên đây là quan hệ pháp luật về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn ông Hồ Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ung Thị H:

– Về hôn nhân: Xét thấy bà Ung Thị H và ông Hồ Văn T đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Nay, bà Ung Thị H yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn T với lý do cuộc sống hôn nhân có sự mâu thuẫn trầm trọng đến mức bà H và ông T không còn chung sống trong thời gian dài, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau.

Theo lời trình bày của nguyên đơn và theo biên bản xác minh tại địa phương thì sau khi bà H và ông Hồ Văn T xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng không còn chung sống từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa để hòa giải, giải quyết vụ án nhưng ông T không chấp hành, điều này chứng tỏ ông T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân của bà Ung Thị H và ông Hồ Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

– Về con chung: Bà Ung Thị H và ông Hồ Văn T có 02 người con tên Hồ Như Y, sinh năm 2005 (đã trưởng thành) và Hồ Ý V, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2015.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án có thu thập lời khai của cháu Hồ Ý V, ý kiến cháu V mong muốn được ở với mẹ (bà Ung Thị H). Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi bà Ung Thị H và ông Hồ Văn T không còn sống chung cho đến nay, bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Ý V và hiện nay cuộc sống của cháu đang ổn định. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ung Thị H, giao người con chung tên Hồ Ý V cho bà Ung Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Hồ Ý V đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ung Thị H không yêu cầu ông Hồ Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Ông Hồ Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về tài sản và nợ chung: Bà Ung Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đề nghị tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Ung Thị H là người có yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • -Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • -Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • -Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Ung Thị H. Bà Ung Thị H được ly hôn với ông Hồ Văn T.
  2. Về con chung: Bà Ung Thị H và ông Hồ Văn T có 02 người con chung tên Hồ Như Y, sinh năm 2005 (đã trưởng thành) và Hồ Ý V, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2015.

    Giao người con chung tên Hồ Ý V cho bà Ung Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Hồ Ý V đủ 18 tuổi.

    Bà Ung Thị H không yêu cầu ông Hồ Văn T cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản và nợ chung: Bà Ung Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Ung Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng bà Ung Thị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006965 ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong nên tiền án phí sơ thẩm bà Ung Thị H đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Ung Thị H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/01/2025). Đối với bị đơn ông Hồ Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơinhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - UBND TT Liên Hương;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger