Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số:13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21-3-2025

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Bé;
  2. Ông Hồ Quốc An.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Bảo Tâm- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thông - Kiểm sát viên.

Vào ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 3942024HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số C, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh K, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2024; biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2024; biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 12/02/2025 và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị và anh K tìm hiểu và quen biết nhau từ năm 2021, đến năm 2023 thì kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/05/2023 theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, khoảng 05 tháng sau khi kết hôn thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh K.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh K không có con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2024 anh Nguyễn Anh K trình bày: Anh và chị H kết hôn với nhau từ năm 2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Tuy nhiên, vợ chồng anh đã ly thân với nhau từ khoảng tháng 5/2024 cho đến nay.

Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn thương vợ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tố tụng và đường lối giải quyết vụ án trên như sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nên đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì về tố tụng đối với vụ án trên.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Anh K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 04/5/2023, của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T).

Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Anh K, nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về việc “Ly hôn”. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Tại phiên tòa, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh K.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H với anh K là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ đầu năm 2024 chị và anh K đã ly thân cho đến nay. Từ khi anh, chị ly thân cho đến nay, anh K có đến gặp chị H để hàn gắn nhưng chị H không đồng ý hàn gắn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải, động viên cho vợ chồng anh chị hàn gắn, chung sống lại với nhau. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/12/2024, anh cho rằng vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì lớn trong cuộc sống và anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ, nhưng từ khi Tòa án lý vụ án cho đến nay, anh không đưa ra được phương cách để vợ chồng anh hàn gắn, chung sống lại với nhau, anh K không có mặt theo Thông báo của Tòa án để tham gia hòa giải và cũng không có mặt để tham gia phiên tòa, chứng tỏ rằng anh K không quan tâm gì đến hôn nhân của vợ chồng anh. Xét thấy, đời sống chung của anh, chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh K là hoàn toàn phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh K không có con chung nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa chị H trình bày: chị và anh K không có tài sản chung và cũng không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với tài sản chung và nợ chung của chị H và anh K trong vụ án này là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa, anh K vắng mặt lần thứ 2, xét thấy anh K đã được triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[7] Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, phù hợp với các quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Anh K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 04/5/2023, của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

Cho chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Anh K được ly hôn với nhau.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000411 ngày 06/12/2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT Toà án Tỉnh;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - UBND xã Phú Thọ;
  • - Các đương vụ trong vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoàng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger