|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 – 02 - 2025 Về việc: “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Phong
- Ông Nguyễn Văn Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 536/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh ngày: 01/01/1972 (Vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh ngày: 01/01/1967 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp Thới Lợi 2, xã T, huyện B, tỉnh T.
Địa chỉ cư trú: Ấp Thới Lợi 2, xã T, huyện B, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 16/10/2024, bản tự khai đề ngày 27/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng năm 1993, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có hạnh phúc đến tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã, ông T hay ghen và ly thân đến nay, không có hàn gắn lại được tình cảm. Quá trình chung sống, bà và ông Tường có 03 con chung Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 03/7/1996, Nguyễn Thị Quế A, sinh ngày 21/10/1993 và Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 05/3/2004. Cả 03 con chung hiện nay đều đã thành niên, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: 03 con chung đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 16/12/2024.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn T các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều từ chối nhận các văn bản tố tụng và vắng mặt nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 16/12/2024. Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng ông T đều vắng mặt. Ông T hiện nay vẫn đang sinh sống tại địa phương (Theo đơn xin xác nhận của công an xã T ngày 16/10/2024, bút lục số 06). Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông T là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T khai, bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993, không có đăng ký kết hôn, phù hợp với nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T ngày 17/10/2024 (Bút lục số 05). Do đó, Hội đồng xét xử xác định bà T và ông T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993 (Sau năm 1987) mà không có đăng ký kết hôn. Ông bà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật lẽ ra phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng không thực hiện. Cho nên, căn cứ vào Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa bà T và ông T là không hợp pháp, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Bà T không đồng ý hàn gắn tình cảm với ông T, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Vì vậy, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T.
[2] Về con chung:
Bà Nguyễn Thị T khai, bà và ông Nguyễn Văn T chung sống có với nhau 03 con chung: Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 03/7/1996, Nguyễn Thị Quế A, sinh ngày 21/10/1993 và Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 05/3/2004. 03 con chung hiện nay đã thành niên nên bà Thảo không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[3] Tài sản chung, nợ chung:
Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà T phải chịu theo luật định là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, 53, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: 03 con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004048 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, bà T đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phương |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, 53, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; 3 Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1.Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T. 2. Về con chung: 03 con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xét đến. 3. Tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xét đến. 4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004048 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, bà Tđã nộp đủ án phí. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
