|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 20/11/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Mấy và ông Hoàng Văn Hào
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Nam - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 13 - Thanh Hoá;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hoá tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên;
Vào ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 40/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vàng Thị X, sinh năm 1995
Căn cước công dân số: [...];
Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 07/10/2025).
- Bị đơn: Anh Giàng A N, sinh năm 1994
Căn cước công dân số: [...];
Nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 07/10/2025).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Vàng Thị X trình bày:
2
Về hôn nhân: Chị và anh Giàng A N tự do tìm hiểu, yêu đương không bị ai ép buộc, không ai ép buộc ai, sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2022 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã M, tỉnh Thanh Hoá), vợ chồng sống hòa thuận được một thời gian dài và có 01 con chung. Đến khoảng đầu năm 2024 trở lại đây vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Giàng A N nóng tính dẫn đến hay xảy ra cải vã lẫn nhau, chị và anh N luôn bất đồng về quan điểm sống, mỗi người một ý kiến. Nhiều lần chị cũng đã chịu đựng và nhường nhịn để giữ hạnh phúc gia đình, chăm lo cho con cái. Chị X cảm thấy cuộc sống như vậy thật mệt mỏi và bế tắc, chị cảm thấy không còn tình cảm với anh N nữa và chị cũng cảm nhận anh N cũng không còn tình cảm với chị nữa nên mới đối xử với chị như vậy. Hiện tại chị và anh N đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Nay chị X mong muốn Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Giàng A N.
Về con chung: Trong thời kì chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Giàng A H, sinh ngày 15/10/2016. Sau khi ly hôn chị X đồng ý giao cháu Giàng A H cho anh Giàng A N được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cho đến khi cháu Giàng A H đủ 18 tuổi. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh N tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Giàng A N trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Vàng Thị X tự do tìm hiểu, yêu đương không bị ai ép buộc, không ai ép buộc ai, chúng tôi sống chung với nhau từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2022 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã M, tỉnh Thanh Hoá), vợ chồng sống hòa thuận được một thời gian dài và có 01 con chung. Đến khoảng đầu năm 2024 vợ chồng có mâu thuẫn nhỏ, nhưng đến tháng 12 năm 2024 trở lại đây vợ chồng chúng tôi thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị X có quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác và bỏ nhà ra đi nên vợ chồng hay xảy ra cải vã lẫn nhau và không quan tâm đến gia đình và con cái. Nhiều lúc nóng giận anh cũng có đánh chị X hai lần vì chị bỏ nhà ra đi không nói với anh. Vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống, mỗi người một ý kiến. Nhiều lần anh cũng đã chịu đựng và nhường nhịn để giữ hạnh phúc gia đình, chăm lo cho con cái. Hiện tại chị Vàng Thị X đã về nhà ông bà ngoại khoảng tháng 01 năm 2025 cho đến nay. Hiện nay anh N xác định vẫn còn tình cảm với chị X, không muốn ảnh hưởng tới con cái và anh nghĩ mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn với chị Vàng Thị X.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Giàng A H, sinh ngày 15/10/2016. Nếu trường hợp phải ly hôn thì anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Giàng A H. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung: anh và chị X tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
Chị X và anh N đều đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh N.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, ghi nhận ý kiến của Trưởng bản Trung Thắng và xác nhận của UBND xã M như sau:
Chị X và anh Giàng A N, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Thanh Hóa chung sống với nhau vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/3/2022 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã M, tỉnh Thanh Hoá). Vợ chồng chung sống với nhau tại bản Trung Thắng, xã M, tỉnh Thanh Hóa.
Đến khoảng đầu năm 2024, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng tình cảm không còn, không tìm được tiếng nói chung, không ai quan tâm ai. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Hiện nay chị X đang ở nhà bố mẹ đẻ ở bản C, xã M, tỉnh Thanh Hóa.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị X được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao cháu Giàng A H, sinh ngày 15/10/2016 cho anh Giàng A N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị X và anh N tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về tài sản và công nợ chung: Chị X và anh N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Vàng Thị X là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông), sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Chị Vàng Thị X và anh Giàng A N đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 03/3/2022 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã M, tỉnh Thanh Hoá) là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hoà hợp được, vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Nguyên nhân là do anh N nghi ngờ chị X có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác và có đánh chị X hai lần do chị bỏ nhà ra đi (anh N đã thừa nhận việc này), tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống. Vợ chồng có sự nghi ngờ
4
về mặt tình cảm, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Vì những lẽ đó, từ khoảng tháng 12 năm 2024 vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai, việc này đã được Trưởng bản Trung Thắng và chính quyền địa phương xác nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Vàng Thị X được ly hôn anh Giàng A N để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.
[2] Về con chung: Chị X và anh N có 01 con chung tên là Giàng A H, sinh ngày 15/10/2016. Nay ly hôn, anh N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nuôi cháu H cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi), chị X nhất trí giao cháu H cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu H cũng có nguyện vọng được ở với anh N, cũng như phù hợp với nguyện vọng của chị X và anh N. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị X và anh N, giao cháu Giàng A H cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị X và anh N tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về tài sản và nợ chung: Chị X và anh N không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[4] Về án phí: Chị Vàng Thị X là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) thuộc hộ nghèo, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Vàng Thị X được ly hôn anh Giàng A N.
Về con chung: Giao cháu Giàng A H, sinh ngày 15/10/2016 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị X và anh N tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Chị Vàng Thị X có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở
Án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Vàng Thị X.
5
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị X và anh N. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hà Thị Yến Vi N1 Trung |
Phạm Văn Hùng |
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSND khu vực 13 - Thanh Hóa;
- - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- - TAND tỉnh Thanh Hóa;
- - THADS tỉnh Thanh Hóa;
- - UBND xã Mường Lý, tỉnh Thanh Hoá;
- - Lưu HSVA.
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
