Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2025
V/v Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hạnh và bà Triệu Thị Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Minh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 04/6/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1976; ĐKHKTT: xóm N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện tại: thôn Ô, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh;

Dân tộc: Dao; Căn cước công dân số: [...]

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Đào Anh T - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T;

Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1975; nơi cư trú: xóm N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;

Dân tộc: Dao; Căn cước công dân số: [...]

(có mặt bà L và ông T; ông Đ đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn và anh Phan Văn Đ về chung sống với nhau từ năm 1993, không đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống tại xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, hạnh phúc. Sau đó trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, cãi chửi nhau, đánh nhau, nguyên nhân là do anh Đ hay uống rượu, không chịu tu chí làm ăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, vợ chồng bất đồng quan điểm sống trầm trọng. Gia đình hai bên không ai khuyên bảo, hòa giải được. Do mâu thuẫn trầm trọng nên nguyên đơn và anh Đ đã sống ly thân từ khoảng tháng 5 năm 2017 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Từ năm 2017 nguyên đơn đi làm thuê ở Bắc Ninh, thỉnh thoảng có về thăm nhà nhưng cứ về thì anh Đ lại đánh mắng nên nguyên đơn ít về hơn. Nguyên đơn xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên, đề nghị Tòa án giải quyết cho nguyên đơn ly hôn anh Phan Văn Đ.

Về con chung: nguyên đơn và anh Đ có 03 con chung là Phan Hữu T1 sinh ngày 10/10/1995, Phan Hữu L1 sinh ngày 29/11/1997, Phan Hữu An sinh ngày 03/5/2001, hiện các con đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn trình bày:

Bị đơn và bà Đặng Thị L về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993, không đăng ký kết hôn. Trước khi về chung sống có được tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau nên thường xuyên căng thẳng, cãi vã. Bà L đã bỏ đi làm công nhân được khoảng 10 năm nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn tình cảm, bà L rất ít khi về nhà. Bà L đề nghị ly hôn thì bị đơn nhất trí.

Về con chung: vợ chồng có 03 con chung là Phan Hữu T1 sinh ngày 10/10/1995, Phan Hữu L1 sinh ngày 29/11/1997, Phan Hữu An sinh ngày 03/5/2001, hiện các con đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên quan điểm, bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét theo giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố không công nhận bà Đặng Thị L và ông Phan Văn Đ là vợ chồng; về con chung: đã trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung không giải quyết do không yêu cầu. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 11 và Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Bị đơn đơn có nơi cư trú tại xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi thụ lý vụ án bị đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại tất cả các phiên làm việc, phiên tòa, vụ án không hòa giải được, căn cứ vào khoản 3 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Về sự vắng mặt của bị đơn: tuy đây là phiên tòa được mở lần đầu nhưng bị đơn đã có đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Phan Văn Đ, căn cứ vào lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử thấy:

Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1993, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N được cung cấp như sau: nguyên đơn và bị đơn không có tên trong sổ đăng ký kết hôn, đều chưa đăng ký kết hôn với ai.

Nguyên đơn và bị đơn cùng xác định quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống đã kéo dài nhiều năm không thể dung hòa được, hai bên đã tự tách ra sống mỗi người ở một nơi không ai quan tâm đến ai khoảng gần 10 năm nay, cả hai cùng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên.

Mặc dù việc chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, nhưng cho đến nay hai bên vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “ Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo Luật này, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật công nhận, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận là vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3]. Về con chung: nguyên đơn và bị đơn xác định các con đã trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, công nợ chung: nguyên đơn và bị đơn cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

[6]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 15/4/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị L và ông Phan Văn Đ.

2. Về con chung: đã trên 18 tuổi, không xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung và công nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đặng Thị L chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006792 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Chi cục THADS huyện Võ Nhai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger