Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-3-2025

V/v: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thái và ông Phan Vũ Anh Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Đan - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 353/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26/11/2024, về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 12/02/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Bị đơn: Ông Trần Thế V, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Bà và ông Trần Thế V tìm hiểu, tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2015 do UBND xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/5/2015. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Ông V không chịu đi làm kiếm tiền chăm lo cho vợ con. Ngoài ra ông V còn cờ bạc, chơi bời khiến vợ chồng cãi vã. Vợ chồng cũng có cố gắng hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 6/2024 đến nay. Vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chia sẻ cho nhau những buồn vui trong cuộc sống nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thế V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Thảo N, sinh ngày 29/01/2016, giới tính: nữ. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Thế V: Đã được Tòa án nhân dân thị xã La Gi tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng ông V không có mặt để giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi cho rằng:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà T được ly hôn với ông V.

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Trần Thảo N, sinh ngày 29/01/2016, giới tính: nữ cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T nộp đơn khởi kiện về việc "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con" đối với ông Trần Thế V. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Bà Nguyễn Thị Hồng T có đơn xin giải quyết vắng mặt; ông Trần Thế V đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Trần Thế V tự nguyện tìm hiểu, kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2015 do UBND xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 19/5/2015. nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Bà T cho rằng bà không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn với ông V. Mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ ông V nhiều lần nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện ông không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của ông bà, thể hiện: “... Vợ chồng ông, bà có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, từ tháng 6/2024 vợ chồng không còn sống chung ...”. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa ông, bà đã thật sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn, là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Con chung: Ông, bà có 01 con chung là cháu Trần Thảo N, sinh ngày 29/01/2016. Xét, yêu cầu nuôi con của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo cho con trẻ được phát triển bình thường, đầy đủ nhất về thể chất và tinh thần. Cháu còn nhỏ, hiện tại đang được bà T nuôi dưỡng. Bà T có việc làm và thu nhập ổn định, vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu tốt, cháu N cũng muốn ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông V có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Để đảm bảo quyền lợi của con chung, ông V được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 9, 51, 56, 58, 69, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn ông Trần Thế V.

[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thảo N, sinh ngày 29/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Hồng T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Trần Thế V có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Ông V được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo biên lai số 0012010, ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà Nguyễn Thị Hồng T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Trần Thế V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

* Nơi nhân:

- TAND tỉnh Bình Thuận;

- VKSND thị xã La Gi;

- THADS thị xã La Gi;

- Các đương sự;

- Nơi ĐKKH: UBND phường Phước Hội, thị xã La Gi;

- Lưu hồ sơ; Lưu Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn Thị Hồng Th - Nguyễn Thế V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger