|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-02-2025 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Đặng Thị Thới
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hương
Ông Đặng Văn Miện
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 753/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H, sinh năm: 1983.
Địa chỉ thường trú: A16C5 N, phường D, thành phố Đ
Địa chỉ liên hệ: D T, phường N, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Lê Văn A, sinh năm: 1973.
Địa chỉ thường trú: Số S H, phường F, thành phố Đ;
Địa chỉ liên hệ: tổ A A, phường D, thành phố Đ
(Bà H và ông A có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H trình bày thì:
Năm 2003, bà và ông Lê Văn A về chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường F, thành phố Đ.
Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã tìm nhiều lần để cố gắng giải quyết nhưng không có kết quả như mong đợi, mỗi lúc càng nặng nề, không thể cứu vãn được. Bà và ông A sống ly thân đến nay đã được 02 năm, vợ chồng không còn tình cảm, trải qua nhiều biến cố lớn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lê Văn A.
Về con chung:
Bà H xác định, vợ chồng có 02 con chung là Lê Vân T, sinh ngày: 24/8/2003 và Lê Phương T1, sinh ngày: 16/9/2005.
Hiện các con đã thành niên nên khi ly hôn, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết người nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu xem xét.
Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Văn A: Ông A có đơn xin giải quyết vắng mặt nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H.
Tại phiên tòa,
Bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H và ông Lê Văn A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm, đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H được ly hôn với ông Lê Văn A; Đối với 02 con chung là Lê Vân T, sinh ngày: 24/8/2003 và Lê Phương T1, sinh ngày: 16/9/2005 hiện đã thành niên nên không xem xét người nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con khi bà H và ông A ly hôn; Về tài sản chung: bà H không yêu cầu nên không xem xét; Về nợ chung: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Văn A, sinh năm: 1973. Địa chỉ thường trú: Số C H, phường F, thành phố Đ. Địa chỉ liên hệ: Tổ A A, phường D, thành phố Đ.
Qua đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H và bị đơn ông Lê Văn A đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Đối chiếu lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H tại đơn khởi kiện ghi ngày 01/11/2024 (BL 06), bản tự khai ghi ngày 04/11/2024 (BL 17), biên bản hòa giải ghi ngày 23/01/2025 (BL 23) và Trích lục kết hôn của UBND phường F, thành phố Đ (BL 03) thể hiện thì: Bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H và ông Lê Văn A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/8/2003, vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nên hôn nhân giữa bà H và ông A là hợp pháp.
Về mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà H và ông A:
Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà H và ông A song do UBND phường F, thành phố Đ không nhận được đơn yêu cầu hòa giải mâu thuẫn trong hôn nhân giữa vợ chồng bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H và ông Lê Văn A nên chính quyền địa phương không thể cung cấp thông tin (BL 19)
Theo bà H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện thì: Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhận chính là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn chăm sóc lẫn nhau và vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm.
Đối với bị đơn ông Lê Văn A: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo hòa giải ... BL 14, 21...) cho ông A để ông A thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật. Song kể từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến nay, ông A chỉ có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt (BL 20) và ông A cũng không có văn bản phản hồi cho Tòa án trình bày ý kiến về nội dung khởi kiện của bà H đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Qua đó cho thấy, ông A biết việc bà H khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn giữa ông bà nhưng ông không quan tâm, không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng bà H xây dựng hạnh phúc gia đình.
Từ đó có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông A đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H đối với ông Lê Văn A được quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 3 Điều 4 - 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[3.2] Về con chung:
Đối chiếu lời khai và chứng cứ, tài liệu (02 giấy khai sinh) do nguyên đơn bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H cung cấp (BL 01, 02) thì: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà H và ông A có 02 con chung tên Lê Vân T, sinh ngày: 24/8/2003 và Lê Phương T1, sinh ngày: 16/9/2005.
Hiện các con chung của vợ chồng đã thành niên nên khi giải quyết cho bà H với ông A được ly hôn, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến người nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung.
[3.3] Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, vợ chồng bà H và ông A có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác tại Tòa án để được xem xét giải quyết.
[3.4] Về nợ chung: bà H xác định, vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét.
[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51; khoản 1 Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H:
- - Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H được ly hôn với ông Lê Văn A
- - Về con chung: Các con chung của vợ chồng đã thành niên nên không xem xét giải quyết người nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung
- Về án phí: Bà Nguyễn Đỗ Phương Bích H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001381 ngày 04/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đặng Thị Thới (đã ký và đóng dấu) |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN
