|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST. Ngày 18/3/2025 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý.
Ông Tạ Kỳ Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 497/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025; giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: chị Phan Thị D, sinh năm 1994.
Cư trú tại: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
-
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1994.
Cư trú tại: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
(Chị D, anh K vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phan Thị D trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn K chung sống với nhau từ năm 2021, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống cùng gia đình chị tại ấp Á, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, thường xuyên gây gỗ nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề, tình cảm đã phai nhạt, không còn hạnh phúc. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay, anh K đã về cư trú tại nhà cha, mẹ ruột của anh K tại ấp B, xã P, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Chị xác định xác định hiện tại chị không còn tình cảm đối với anh K và không muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh K.
Về con chung: vợ chồng chị không có con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Nguyễn Văn K trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng anh bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022, thường xuyên gây gỗ, không còn lòng tin đối với nhau và đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay. Từ khi ly thân, anh và chị D đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng không thể hàn gắn tiếp tục chung sống hạnh phúc với nhau. Nay anh đồng ý ly hôn chị D.
Về con chung: vợ chồng anh không có con chung.
Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng anh không nợ ai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
-
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
-
- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phan Thị D đối với anh Nguyễn Văn K. Chị D được ly hôn anh K.
Về con chung: chị D, anh K không có con chung.
Về tài sản chung: chị D, anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: chị D, anh K trình bày không có nợ.
Về án phí: chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: chị Phan Thị D và anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị D và anh K chung sống với nhau vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng chị D, anh K đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn chung sống với nhau. Nay chị D yêu cầu ly hôn và anh K cũng đồng ý ly hôn chị D.
Xét thấy, chị D và anh K tự nguyện thuận tình ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, do chị D và anh K đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh K, cho chị D được ly hôn anh K là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: vợ chồng chị D, anh K không có con chung.
[4] Về tài sản chung: chị D, anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: chị D, anh K trình bày không có nợ.
[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[6] Án phí: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị D đối với anh Nguyễn Văn K.
Chị Phan Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
- Về con chung: chị D, anh K không có con chung.
- Về tài sản chung: chị D, anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: chị D, anh K trình bày không có nợ.
- Án phí: chị Phan Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012089 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị D, anh K có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Minh Thư |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST. ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị D ly hôn Nguyễn Văn K
