|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18-3-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Còn.
- Bà Mai Thị Bỉ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Số nhà D, Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Số nhà D, Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
(Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là xã T), huyện T, tỉnh Long An ngày 06/12/2005, thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thường xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vì nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 28/10/2006 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 23/6/2011. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 23/6/2011 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 28/10/2006 hiện đã trưởng thành và khỏe mạnh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, không trình bày ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Cẩm H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T và yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bị đơn hiện đang cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Long An theo xác minh của Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là ly hôn và tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn có đơn ngày 06/02/2025 đề nghị Tòa án không hòa giải vụ án nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về chứng cứ: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, thấy rằng: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01, ngày 06/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là xã T), huyện T, tỉnh Long An cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm đến nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Bị đơn từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn. Như vậy chứng tỏ ông T cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà H. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông T là có phát sinh trên thực tế, vợ chồng đã không còn quan tâm đến nhau nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 28/10/2006 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 23/6/2011. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu đang sống với bà H, do bà H trực tiếp chăm lo việc học hành, sinh hoạt hàng ngày và cháu vẫn phát triển bình thường; ông T cũng không có yêu cầu tranh chấp về quyền nuôi con; cháu M cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cho bà Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 23/6/2011 để không làm thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của con. Ông T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về mức cấp dưỡng nuôi con. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Đối với con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 28/10/2006 hiện đã trưởng thành và khỏe mạnh nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày bà và ông T không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung. Vì bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009901 ngày 16/01/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ tỉnh Long An, bà H đã thi hành xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 96, Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 2 Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” đối với ông Nguyễn Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 23/6/2011, ông Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009901 ngày 16/01/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ tỉnh Long An, bà H đã thi hành xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Hoàng Dung |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
