|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/3/2025
V/v:"ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phú Anh Lân.
- Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến trinh–Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 284/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2024 về việc "ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐHNGĐ-ST ngày 26/02/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Đào Thị H –sinh năm 1983 (có mặt).
-Bị đơn: Ông Ngô Văn L –sinh năm 1983 (vắng mặt).
Cùng trú tại: Thôn N, xã P, huyện N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị H trình bày:
Bà và ông Ngô Văn L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003, nhưng đến năm 2008 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, đến năm 2013 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Ông L hay say xỉn kiếm chuyện chửi mắng xúc phạm bà. Từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay bà và ông L không còn chung sống với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.
Về con chung: có 02 người con tên Ngô Văn P -sinh ngày 30/9/2004 và Ngô Thị Tường V -sinh ngày 23/5/2012. Hiện cháu P đã trưởng thành nên bà không có ý kiến gì. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu V, không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu.
Bị đơn ông Ngô Văn L: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.
Chính quyền địa phương thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi mà ông Ngô Văn L và bà Đào Thị H cùng chung sống xác nhận: vợ chồng ông L, bà H chung sống thường xảy ra cải vả, hiện hai người không còn chung sống với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Đào Thị H được ly hôn với ông Ngô Văn L. Về con chung nên giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung không yêu cầu. Về án phí ly hôn sơ thẩm bà H phải chịu theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đào Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Ngô Văn L, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đối với bị đơn ông Ngô Văn L vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị H và ông Ngô Văn L tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, Quyển số I/08 ngày 31/3/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng đang sống ly thân, không còn quan tâm nhau.
Xét thấy, hôn nhân của giữa bà H và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
[3] Về con chung: Bà H và ông L có 02 người con chung tên Ngô Văn P (nam)-sinh ngày 30/9/2004 và Ngô Thị Tường V (nữ)–sinh ngày 23/5/2012. Hiện cháu P đã trưởng thành, lao động tự túc được nên bà H không có yêu cầu. Cháu V còn nhỏ và sống cùng với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cháu V, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông L vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà H, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà H đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, hiện con đang sống cùng với bà H và bà H chăm sóc con tốt, ông L không quan tâm đến con, không chu cấp tiền nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của bà H là cần thiết để đảm bảo cho con phát triển được tốt và phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên muốn sống cùng với mẹ (H). Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao 01 người con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu, nên không xét.
[5] Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo pháp luật.
[6] Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Bà Đào Thị H được ly hôn với ông Ngô Văn L.
- Về con chung: Bà Đào Thị H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Ngô Thị Tường V (nữ)-sinh ngày 23/5/2012. Ông Ngô Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Đào Thị H không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Đào Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004601 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận. Bà Đào Thị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
