Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-02-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thới

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Ẩn
  2. Bà Nguyễn Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 435/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

(Chị H có Đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 25/11/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và nguyên đơn xin vắng mặt nhưng trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Văn T xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B ngày 24/11/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung. Tuy nhiên, chị H cho rằng hai anh chị chưa tìm hiểu thấu đáo trước khi xác lập quan hệ hôn nhân nên sau này trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, dẫn đến bất hòa và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Vợ chồng đã chính thức sống ly thân đến nay khoảng 03 năm. Nhận thấy, chị H không thể tiếp tục chung sống với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T chung sống có 02 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 15/3/2005, Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 24/12/2024. Các con hiện đang sinh sống cùng với chị H. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Về tài sản chung; nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc gia nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 01 Trích lục kết hôn; Giấy khai sinh con chung; căn cước công dân của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại xã L, huyện B về việc tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

[2]. Anh Trần Văn T đã được Toà án triệp tập hợp lệ lần thứ 02 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

[3]. Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Trần Văn T xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

[4]. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng có thời gian dài chung sống có đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình nộp Đơn khởi kiện, chị H cho rằng giữa hai anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không hòa hợp với nhau về mọi mặt và hiện nay đã sống ly thân khoảng 03 năm và không còn quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã cho các đương sự thời gian đoàn tụ, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc đoàn tụ giữa các đương sự không có kết quả nên Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Trần Văn T, là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn.

[5]. Về nuôi con chung: Chị H xác nhận chị và anh T chung sống có 02 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 15/3/2005 và Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 24/12/2024. Con chung Trần Minh T1 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xét đến. Con chung Trần Thị Ngọc M đang sinh sống cùng với chị H, sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo luật định. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H. Giao con chung Trần Thị Ngọc M cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.

[6]. Về tài sản chung; nợ chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7]. Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Mai Cẩm H1 phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điểm a khoản 1 các Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56, 58,59, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Trần Văn T.

  1. Quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Văn T.
  2. Quan hệ con chung: Giao con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 24/12/2024 cho chị Nguyễn Thị Thu H được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007168 ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An chuyển sang án phí sung Ngân sách Nhà nước.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện B;
  • - UBND xã Lương Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CAO THỊ THỚI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H "Ly hôn" Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger