TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 13/2025/HNGĐ – ST. Ngày: 13/6/2025 V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng
Ông Nguyễn Viết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị L - SN 1990 “Vắng mặt”
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu S - SN 1985 “ Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ : TDP B, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Chị Trương Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và Nguyên Hữu S1 kết hôn với nhau năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ 05/2017 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S1.
Về con: Anh chị có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 01/4/2009, cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/11/2012 và cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 12/9/2017. Ly hôn chị đề nghị giao hai cháu Thùy T và cháu Minh H cho anh Nguyễn Hữu S trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Duy K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn trình bày nguyện vọng của ba con chung của anh S, chị L: Cháu Nguyễn Thị Thùy T và cháu Nguyễn Minh H trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng ở với bố; Còn cháu Nguyễn Duy K có nguyện vọng ở với mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Hữu S theo quy định của pháp luật nhưng anh S không đến Tòa án để tự khai, tham gia phiên họp và hòa giải cũng như phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L, anh S để tham gia phiên tòa nhưng chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án tiến hành xử vắng mặt chị L, anh S là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Chấp nhận cho chị Trương Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hữu S, giao hai cháu Thùy T và cháu Minh H cho anh Nguyễn Hữu S trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Duy K cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng quy định theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Mặc dù đã được tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng anh S vắng mặt không có lý do, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS giải quyết vắng mặt chị L, anh S là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Chị Trương Thị L và anh Nguyễn Hữu S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện,có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án chị L khai vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện:quá trình anh chị chung sống với nhau mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ, chỉ biết rắng hiện nay chị L không còn ở cùng với anh S tại địa phương nữa.
Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S lên Tòa án giải quyết nhưng anh S đều vắng mặt. Điều đó cho thấy anh không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án chị L tha thiết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị cũng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, nếu có về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng khó có thể cải thiện được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn với anh S là phù hợp.
[3] Về con: Anh chị có 03 con chung là Cháu Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 01/4/2009, cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/11/2012 và cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 12/9/2017. Xét đề nghị của chị L giao hai cháu lớn là cháu Thùy T và cháu Minh H cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu nhỏ là cháu Duy K cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy anh S và chị L đều có công việc và thu nhập ổn định và cháu Duy K lại đang còn nhỏ nên cần bàn tay chăm sóc của người mẹ hơn, tuy nhiên chị L là phụ nữ nên sẽ khó khăn khi lo cho các con hơn anh S. Và tại đơn trình bày nguyện vọng cháu Thùy T và cháu Minh H trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu mong muốn ở với bố, còn cháu Duy K có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó xét điều kiện hoàn cảnh của anh S, chị L và nguyện vọng của các con chung của anh chị cần giao hai cháu Thùy T và cháu Minh H cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Duy K cho chị L nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 BLTTDS. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hữu S.
Về con: Công nhận cháu Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 01/4/2009, cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/11/2012 và cháu Nguyễn Duy K, sinh ngày 12/9/2017. Giao hai cháu Thùy T và cháu Minh H cho anh Nguyễn Hữu S trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Duy K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị L, anh S có quyền đi lại thăm nom con chung, không được ai cản trở.
Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0001337 ngày 26/2/2025 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn (chị L đã nộp đủ án phí).
Chị L, anh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị L1 |
Bản án số 13/2025/HNGĐ – ST. ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ – ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị L được ly hôn anh S. Giao 02 cháu S và L cho anh nuôi, giao cháu N cho chị nuôi
