|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-3-2025 Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình
Bà Trần Thị Hải Anh
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: bà Ngô Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 02 tháng 12 năm 2024, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn Q tổ chức lễ cưới và tự nguyện kết hôn ngày 15 tháng 02 năm 2019, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Q chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng ly thân nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm Văn Q.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020. Hiện nay cháu Minh A đang sống cùng với anh Q. Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Minh A cho anh Q trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung để cháu ổn định sinh hoạt, học tập. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng (hai triệu đồng/ tháng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: chị Phan Thị H xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh Q không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh Q không có quan điểm để giải quyết vụ án.
Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 14-01-2025 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định xác nhận: Chị H và anh Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 15-02-2019. Về tình trạng hôn nhân của chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q thì chính quyền địa phương không nắm được do chị H nộp đơn trực tiếp tại Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định và không hòa giải tại chính quyền địa phương. Chị H và anh Q có 01 con chung là Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020, hiện cháu đang ở với anh Q tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh Q thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc ngày 14-01-2025 tại địa chỉ thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định là nhà anh Q; bố đẻ anh Q là ông Phạm Văn Q1, sinh năm 1970, nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cung cấp: Hiện nay, anh Q đang làm lái xe trên thành phố N, anh Q thường xuyên về nhà, có liên lạc với chị H qua điện thoại. Ông Q1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án về việc chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực giải quyết ly hôn và con chung với anh Q. Ông Q1 và gia đình không có quan điểm gì, đề nghị chị H và anh Q tự thỏa thuận giải quyết. Chị H và anh Q có 01 con chung Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020, hiện cháu Minh A đang ở với anh Q và ông bà nội, cháu được bố và ông bà nội nuôi dưỡng, chăm sóc đưa đi học từ nhỏ. Nếu Tòa án giải quyết cho chị H và anh Q ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu Phạm Minh A cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để ổn định sinh hoạt và học tập của cháu. Ngoài ra, ông Q1 cũng đã nhận thay cho anh Q các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao tận tay anh Q.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt các thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa Phan Thị H và anh Phạm Văn Q là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Nay hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q.
Về con chung: Chị H và anh Q có một con chung là Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020. Hiện nay cháu đang sống cùng anh Q, chị H cũng đề nghị Tòa án giao cháu Minh A cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì vậy căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định giao con cho anh Phạm Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng (hai triệu đồng/ tháng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập.
Chị Phan Thị H là nguyên đơn nên căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Phan Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị H là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Phạm Văn Q là bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N ngày 15 tháng 02 năm 2019 nên hôn nhân giữa chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Q chơi bời, không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng ly thân nhau từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng đối với anh Q nhưng anh Q không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì chứng tỏ anh Q không có nguyện vọng đoàn tụ. Nay chị H xác định không còn tình cảm với anh Q và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020. Hiện nay cháu đang sống cùng anh Q từ nhỏ. Chị H cũng đề nghị Tòa án giao con cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để cháu không bị ảnh hưởng học tập và sinh hoạt. Hội đồng xét xử nhận thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, việc giao nuôi con chung phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Phạm Minh A cho anh Phạm Văn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận sự tự nguyện của chị Phan Thị H cấp dưỡng con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng/ tháng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Phan Thị H xác định vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Phan Thị H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q.
- Về con chung: Giao con Phạm Minh A (giới tính: Nữ), sinh ngày 13-01-2020 cho anh Phạm Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị Phan Thị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng/ tháng) kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
- Về án phí: Chị Phan Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Phan Thị H đã nộp tại biên lai số 0005252 ngày 26-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Chị H còn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Quyền kháng cáo: Chị Phan Thị H và anh Phạm Văn Q có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Phan Thị H, anh Phạm Văn Q có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự "
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Phương Thảo |
6
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
