|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 11-3-2025 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Huynh
Ông Nguyễn Văn Chuẩn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều T, sinh năm 1990; cư trú tại ấp L, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Q II, sinh năm 1978; cư trú tại B B (Bỉ) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn chị Trần Thị Kiều T trình bày: Chị và anh Q II đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh T vào ngày 26/12/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh Q II trở về nước Bỉ sinh sống. Sau đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau và bất đồng văn hóa, ngôn ngữ nên dần dần không còn liên lạc với nhau. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q II.
Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Riêng bị đơn anh Q II, đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án và văn bản của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đề nghị trình bày lời khai, nhưng anh Q II không có lời khai gửi cho Tòa án.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ về cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị T và anh Q II kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được một thời gian ngắn. Hiện nay, mỗi người sinh sống ở một đất nước khác nhau và không còn liên lạc với nhau, nên không có khả năng đoàn tụ vợ chồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn với anh Q II; không xem xét, giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quản điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều T làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (BL 06). Riêng bị đơn anh Q II, là người có quốc tịch Bỉ, đang định cư tại nước Bỉ và đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, văn bản tố tụng của Tòa án đề nghị anh Q II cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu ly hôn của chị T vào ngày 22/5/2024 (BL 30). Nhưng anh Q II không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 12/10/2025. Do đó, căn cứ vào Điều 238, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T và anh Q II.
- Về hôn nhân: Chị T và anh Q II đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh T vào ngày 26/12/2014 (BL 07). Theo chị T khai, sau khi kết hôn, chị T và anh Q II sống chung được một thời gian ngắn thì anh Q II xuất cảnh trở về nước Bỉ và dần dần không còn liên lạc với nhau, nên chị T xác định mục đích của hôn nhân không đạt được và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh Q II.
- Bị đơn anh Q II, không cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ cho Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật Việt Nam, coi như anh Q II từ bỏ ý kiến tranh tụng tại Tòa án. Vì vậy, căn cứ vào lời khai, tài liệu, chứng cứ do chị Tiên cung C cho Tòa án, để xét xử vụ án.
- Qua lời khai của chị T và các tài liệu, chứng cứ chị T cung cấp cho Tòa án, cho thấy: Sau khi kết hôn, chị T và anh Q II không thực hiện được tình nghĩa vợ chồng về yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không thực hiện được nghĩa vụ sống chung với nhau, làm cho đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị T yêu cầu ly hôn với anh Q II, là có căn cứ.
- Về con chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Xét thấy, quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn với anh Q II; không xem xét, giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung, là có căn cứ.
- Về án phí: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, buộc chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003968, ngày 23/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 và khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Thị Kiều T.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Kiều T ly hôn với anh Q II.
- Về con chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không tranh chấp, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Trần Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị Kiều T đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003968, ngày 23/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn giữa Trần Thị Kiều T với Q I (Bỉ)
