Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-3-2025

Về việc ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa và bà Đoàn Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Như B, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.

2- Bị đơn: Anh Đồ Quốc T, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Anh chị tự nguyện cưới nhau năm 2015, đăng ký kết hôn năm 2019. Sau khi cưới nhau sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, anh T không quan tâm gia đình, công việc ai người đó làm, tiền bạc của ai người đó xài, chi phí trong gia đình và nuôi con đều do chị B chi trả. Anh chị sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trong thời gian chung sống, có 01 người con chung là Đồ Xuân N, sinh ngày 09/9/2016, hiện chị B đang nuôi. Nay yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Không yêu cầu vấn đề gì khác.

[2]- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh T vắng mặt nên không có lời trình bày.

[3]- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn là anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B và giao Xuân N cho chị B nuôi dưỡng. Không ai yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị B yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị B yêu cầu được ly hôn và yêu cầu giải quyết quyền nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và nuôi con”.

Bị đơn là anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và anh T có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về hôn nhân: Năm 2015 anh T và chị B cưới nhau, đến năm 2019 đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay.

Xét thấy, anh chị mâu thuẫn thời gian dài, hiện nay không sống chung với nhau nữa. Anh chị là vợ chồng nhưng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh T1 không đến dự, không thể hiện ý kiến và nguyện vọng của mình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị B và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho chị B được ly hôn với anh T1.

[3] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Đồ Xuân N, sinh ngày 09/9/2016, đang sống chung với chị B, chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi con và Xuân N có nguyện vọng sống chung với chị B.

Xét thấy, chị B yêu cầu nuôi con, anh T1 không có ý kiến gì, từ trước đến nay Xuân N sống chung với chị B, được nuôi dạy tốt, hiện tại chị B đủ điều kiện nuôi con và cháu Xuân N cũng có nguyện vọng được sống chung với chị B. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị B, giao Xuân N cho chị B nuôi dưỡng.

Cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của chị B nhưng chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Chị B trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu gì khác; anh T1 cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Như vậy, chị B phải chịu án phí là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 92, 147, 207, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Như B đối với anh Đồ Quốc T. Cho chị Như B được ly hôn với anh T.

2- Về con chung: Giao Đồ Xuân N, sinh ngày 09/9/2016 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị B vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh T1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị Như B chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005213 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

4- Nguyên đơn là chị B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh T1 vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Minh;
  • - Chi cục THADS huyện An Minh;
  • - UBND thị trấn Thứ Mười Một;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Trường Hận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị B và anh T kết hôn nhưng sống không hạnh phúc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger