Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 26/5/2025

V/v Tranh chấp xác định

cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
  • Các Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan
  • Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 06/2025/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con".

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Trung H, sinh ngày 10/4/2006

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Văn D1 - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: D H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn:

  • + Ông Dương Thúc H1, sinh năm 1974
  • Địa chỉ: Số F đường N, khu phố D, phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Thị Thanh T – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: A - A Â, T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • + Ông Dương Thúc H2, sinh năm 1977
  • Địa chỉ: Số F đường N, phường Đ (nay là phường L), thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • + Ông Dương Thúc H3, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: A7-78 KDT Du lịch biển R, đường N, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • + Ông Dương Thúc H4, sinh năm 1984
  • Địa chỉ: 3 P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: Khoa hóa học - Trường Đại học Sư phạm thành phố H, số B đường A, phường D, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Dương Thúc H1, ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3.

Tại phiên tòa có mặt: Ông Trần Trung H, bà Trần Thị Mỹ D, ông Dương Thúc H3, ông Nguyễn Văn D1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm:

Bà Trần Thị Mỹ D, ông Trần Trung H trình bày:

Vào năm 2002, bà Trần Thị Mỹ D có quan hệ tình cảm với ông Dương Thúc A, sinh năm 1945, địa chỉ cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đến ngày 10/4/2006 bà D sinh một người con đặt tên là Trần Trung H, sinh ngày 10/4/2006, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam. Nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Lúc còn sống ông A nhiều lần đặt vấn đề xét nghiệm ADN xác định cha con giữa ông và Trần Trung H và có ý định chuyển họ của H từ họ mẹ là họ Trần sang họ của ông là họ D2. Đến khoảng tháng 7/2020, ông A tự cắt lấy móng tay và tóc đưa cho bà D để bà D làm xét nghiệm AND cho H. Vào ngày 15/7/2020 bà D làm đơn đề nghị V, địa chỉ: Số A, M, phường B, quận A, TP. để xét nghiệm.

Ngày 20/7/2020 V có kết luận giám định ADN xác định: Mẫu Dương Thúc A và mẫu Trần Trung H có mối quan hệ huyết thống cha con với xác suất 99.9999997177355%.

Ông Dương Thúc A đã chết vào ngày 26/7/2020, vợ chính thức của ông A là bà Trần Xuân K đã chết vào ngày 14 tháng 8 năm 2022. Ông A và bà K có 4 người con chung gồm ông Dương Thúc H1; ông Dương Thúc H2; ông Dương Thúc H3 và ông Dương Thúc H4. Các người con của ông A không thừa nhận Trần Trung H là con của ông A và bà D sinh ra. Vào ngày 31 tháng 8 năm 2022, các con của ông A và bà K thoả thuận phân chia thừa kế tài sản của ông A và bà K chết để lại. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho con trai bà D.

Nay bà D khởi kiện các con của ông Dương Thúc A gồm ông Dương Thúc H1; ông Dương Thúc H2; ông Dương Thúc H3 và ông Dương Thúc H4, yêu cầu Tòa án xác định ông Dương Thúc A là cha của Trần Trung H.

Ông Trần Trung H thống nhất với ý kiến của bà Trần Thị Mỹ D, yêu cầu Toà án giải quyết xác định ông Dương Thúc A là cha của ông Trần Trung H.

Bị đơn ông Dương Thúc H1 trình bày:

Việc quan hệ ngoài hôn nhân của cha ông H1 là ông Dương Thúc A với bà Trần Thị Mỹ D trên thực tế có diễn ra hay không thì ông H1 không biết chính xác. Khi cha ông H1 còn sống chỉ có quan hệ lén lút không cho gia đình được biết. Chỉ sau khi mẹ của ông H1 chết thì mới dẫn đến việc tranh chấp vì khi mẹ ông H1 còn sống bà không thừa nhận mối quan hệ này. Nay bà D cung cấp giám định AND để chứng minh mối quan hệ cha con giữa ông Dương Thúc A và Trần Trung H với mục đích để yêu cầu chia di sản thừa kế phần di sản do ông Dương Thúc A để lại. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà D ông H1 không có ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3 và ông Dương Thúc H4 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không thể hiện ý kiến nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.

Tại Bản án hôn nhân gia đình số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ D

Xác định ông Dương Thúc A sinh năm 1945, địa chỉ cư trú: khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã chết vào ngày 26 tháng 7 năm 2020 là cha ruột của ông Trần Trung H, sinh ngày 10/4/2006, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam. Nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Việc đăng ký khai sinh của ông Trần Trung H sẽ được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, các bị đơn ông Dương Thúc H1, ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3 kháng cáo yêu cầu huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị đơn ông Dương Thúc H3 vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ án sơ thẩm.
  • - Nguyên đơn, người liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, đề nghị Toà án không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
    1. Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật.
    2. Về nội dung giải quyết vụ án:
      • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Dương Thúc H1.
      • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Thúc H2.
      • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Thúc H3, sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết về phần án phí, buộc các bị đơn liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt một số đương sự nhưng những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H4 có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Dương Thúc H1 vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H2, ông H4 và đình chỉ xét xử đối với ông H1.

[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của các bị đơn ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3: Trong suốt quá trình giải quyết ở sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các bị đơn ông H2, ông H3 đều cho rằng việc Toà án xác định các ông là bị đơn trong vụ án và giải quyết vụ án dựa trên Kết luận giám định ADN do Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen thuộc V ban hành ngày 20/7/2020 là không đúng.

[3.1] Trong vụ án này, bà Trần Thị Mỹ D khởi kiện các ông Dương Thúc H1, ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3, ông Dương Thúc H4 liên quan đến vấn đề xác định cha cho cháu Trần Trung H vì thấy quyền và lợi ích của nguyên đơn bị xâm phạm. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm đã xác định các ông H1, ông H2, ông H3, ông H4 là bị đơn trong vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.2] Đây là vụ án tranh chấp nhận cha cho con, theo Điều 90 Luật Hôn nhân và Gia đình thì chỉ có cháu H mới có quyền yêu cầu nhận cha cho mình. Do cháu H chưa đủ tuổi thành niên nên bà D (mẹ ruột) là người đại diện theo pháp luật đương nhiên của cháu H và khi bà D làm đơn khởi kiện, ghi tên họ người khởi kiện của bà là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 05/2012/HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nhưng khi Tòa án thụ lý thì phải xác định nguyên đơn là cháu Trần Trung H theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 05/2012/HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà D là nguyên đơn và cháu H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không phù hợp, lẽ ra phải xác định cháu H là nguyên đơn và việc bà D đại diện theo pháp luật đã chấm dứt nên cần điều chỉnh lại về tư cách tham gia tố tụng cho đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, cháu H có mặt và đã đủ 18 tuổi nên theo Điều 89, khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 4 Điều 140 Bộ luật Dân sự, việc đại diện theo pháp luật của bà D cho cháu H đương nhiên chấm dứt, H tự mình tham gia tố tụng hoặc có thể ủy quyền. H vẫn tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của bà D, không thay đổi, bổ sung yêu cầu nào khác nên bản chất nội dung vụ án về nhận cha cho con cũng không có gì thay đổi.

[3.2] Nguyên đơn đã cung cấp cho Toà án cấp sơ thẩm 01 bản Kết luận giám định ADN do Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen thuộc Viện Công nghệ sinh học ban hành ngày 20/7/2020. Theo kết luận giám định ADN nêu trên xác định: Mẫu Dương Thúc A và mẫu Trần Trung H có mối quan hệ huyết thống cha con với xác suất 99.9999997177355%.

Hơn nữa, căn cứ vào Văn bản số 162/CNSH ngày 23 tháng 3 năm 2023 của V đã xác định: V là đơn vị trực thuộc V ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Gen, Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Gen là đơn vị có thẩm quyền giám định ADN. Chính vì vậy kết luận ADN giữa mẫu Dương Thúc A và mẫu Trần Trung H có mối quan hệ huyết thống là đúng thẩm quyền dựa trên chức năng và nhiệm vụ. Kết quả trên cũng phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời trình bày của nguyên đơn, người làm chứng, các hình ảnh.

Các bị đơn nếu không đồng ý với Kết quả giám định này thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành trưng cầu giám định lại nhưng xuyên suốt quá trình giải quyết tại sơ thẩm các bị đơn đều không có yêu cầu giám định lại để bảo vệ cho quyền lợi của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh nên Tòa án sơ thẩm đã giải quyết dựa trên các chứng cứ do bà D cung cấp là có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích về quyền yêu cầu giám định lại: Nếu phía bị đơn có yêu cầu giám định lại thì Hội đồng xét xử sẽ tạm ngừng phiên tòa để thực hiện thủ tục giám định, tuy nhiên bị đơn Dương Thúc H3 có mặt tại phiên tòa khẳng định không yêu cầu giám định lại nên việc khai nại của bị đơn về kết quả giám định là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Từ những nhận định trên, xét thấy các bị đơn ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3 kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình, không có căn cứ để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì các bị đơn phải chịu phần án phí do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, trong vụ án này nguyên đơn chỉ yêu cầu một quan hệ tranh chấp nên các bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí. Việc Tòa án sơ thẩm buộc 04 bị đơn mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí là không đúng, kháng cáo của ông Dương Thúc H3 về vấn đề này là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm:

Sung công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Dương Thúc H1 đã nộp theo khoản 2 Điều 18, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Dương Thúc H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo ông Dương Thúc H3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Dương Thúc H1.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Thúc H2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Dương Thúc H3. Sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết về phần án phí.

Áp dụng: Khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 89, khoản 1 Điều 90, Điều 91, Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 140 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 2, khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 05/2012/HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 18, khoản 2 Điều 26, khoản 1, 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung H

    Xác định ông Dương Thúc A sinh năm 1945, địa chỉ cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã chết vào ngày 26 tháng 7 năm 2020 là cha ruột của ông Trần Trung H, sinh ngày 10/4/2006, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam. Nơi cư trú hiện nay: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Việc đăng ký khai sinh của ông Trần Trung H sẽ được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí:
    • 2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Thúc H1, ông Dương Thúc H2, ông Dương Thúc H3 và ông Dương Thúc H4 phải liên đới chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • 2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
      • Sung vào công quỹ Nhà nước 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông Dương Thúc H1 đã nộp theo biên lai thu số 0002800 ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
      • Ông Dương Thúc H2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0002848 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Ông H2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
      • Ông Dương Thúc H3 không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả lại cho ông H3 300.000 đồng án phí đã nộp tại biên lai số 0002846 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/5/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - TAND TP Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP Phan Thiết;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp xác định cha cho con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xác định cha cho con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger