|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-PT Ngày: 25-3-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”. |
|
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Ông Nguyễn Thiện Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chiêu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 25 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Số A ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Trường C, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số E N, phường A, thành phố T, tỉnh Long An.
-
Bị đơn: Bà Đặng Thị Trúc M, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số A ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1999.
- Ông Nguyễn Phú Q, sinh năm 2002.
Cùng địa chỉ: Số A ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ và bị đơn bà Đặng Thị Trúc M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông và bà Đặng Thị Trúc M tiến đến hôn nhân, có chức lễ cưới vào năm 1998. Sau đó, ông và bà M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 14/10/2002 theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới, ông và bà M sống với nhau tại tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Thời gian đầu, ông và bà M chung sống với nhau hạnh phúc. Về sau ông và bà M có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, sống không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ năm 2015 cho đến nay, ông không có chung sống với bà M và các con. Xét thấy, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nay ông khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà M.
- Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà M có 02 con chung là Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 20/02/1999 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 19/6/2002 đều đã trưởng thành và khỏe mạnh, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, bà M xác định thửa đất số 282, diện tích 2.743,2m², loại đất LUC; thửa đất số 431, diện tích 301,7m², loại đất NTS và thửa đất số 139, diện tích 583,4m² loại đất ONT và căn nhà ở, nhà tạm và nhà vệ sinh trên thửa đất 139, cùng tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An là tài sản chung của ông và bà M. Đồng thời, bà M yêu cầu chia tài sản chung thì ông không đồng ý. Các quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 282, 431 và 139 nêu trên là tài sản riêng của ông chứ không phải tài sản chung của vợ chồng, do cha của ông tặng cho riêng ông. Đối với tài sản trên thửa đất 139 gồm nhà ở, nhà tạm và nhà vệ sinh thì ông đồng ý chia đôi ½ giá trị. Ông xin nhận hiện vật và sẽ hoàn trả lại cho bà M ½ giá trị tài sản trên thửa đất 139 theo Biên bản định giá tài sản ngày 14/4/2024 của Hội đồng định giá.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Thị Trúc M trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng sống chung năm 1998, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, bà sống chung với gia đình chồng tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là ông Đ có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác từ năm 2015 nên thường xuyên cãi nhau. Từ năm 2015, vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm, ông Đ bỏ đi sống nơi khác, khoảng một năm về thăm nhà một lần. Bà không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Đ.
- Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông Đ có 02 con chung là Nguyễn Thị Trúc P, sinh ngày 20/02/1999 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 19/6/2002 đều đã trưởng thành và khỏe mạnh, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về chia tài sản: Bà và ông Đ có tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa số 139, loại đất thổ và căn nhà, nhà tạm và nhà vệ sinh trên đất; quyền sử dụng đất thửa số 282, loại đất lúa và thửa đất số 431, loại đất nuôi trồng thủy sản, các thửa đất cùng tờ bản đồ số 12, tọa lạc ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Nguồn gốc các thửa đất này là do ông Nguyễn Văn H tặng cho bà và ông Đ vào năm 2009. Trước đây, bà và ông Đ sống tại căn nhà làm bằng lá của ông H trên thửa đất số 139. Năm 2008, bà và ông Đ đã xây dựng nhà kiên cố, năm 2012 có sửa chữa nhà như hiện trạng bây giờ. Từ khi ông H cho các thửa đất số 139, 282, 431 đến nay thì bà là người trực tiếp quản lý và sử dụng. Quá trình sử dụng, bà đã cải tạo lại đất, san lắp mặt bằng tại thửa 431, gìn giữ các thửa đất. Ông Đ đi làm theo sà lan nên không có trực tiếp canh tác và không có công sức gìn giữ. Bà là người chăm sóc cho ông H (cha ruột của ông Đ). Hiện nay, bà là người phải lo cúng giỗ cho ông bà bên chồng (gồm ba chồng, nội chồng, ông cố chồng). Ông Đ đi làm thường xuyên vắng nhà và không phụ giúp bà chăm lo gia đình và các chi tiêu trong gia đình. Hiện nay, bà và 02 con đang sống tại căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 139. Ngoài chỗ ở này thì bà không còn chỗ ở nào khác cho bà và các con. Năm 2020, Phú Q bị tai nạn giao thông đến nay chưa hoàn toàn khỏe mạnh. Bà phải trực tiếp lo cho Phú Q, khi Phú Q gây tai nạn giao thông bà phải chạy chữa cho Q1 hơn 20 triệu đồng và bồi thường cho bên bị tai nạn số tiền hơn 170 triệu đồng. Ông Đ không làm tròn trách nhiệm của người cha, ông Đ còn có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Vì vậy, bà yêu cầu chia cho bà được hưởng 70% trên tổng giá trị tài sản chung và bà yêu cầu được nhận hiện vật là thửa đất 431, thửa đất 139 và toàn bộ tài sản là căn nhà cấp 4, nhà tạm và nhà vệ sinh; ông Đ được hưởng 30% toàn bộ giá trị tài sản chung và được nhận toàn bộ thửa đất số 282. Bà sẽ hoàn lại giá trị chênh lệch theo kết quả định giá của Hội đồng định giá nhà nước ngày 14/4/2024 cho ông Đ nếu có.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng các đương sự không đồng ý đoàn tụ nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc “Ly hôn” đối với bà Đặng Thị Trúc M.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn Đ được ly hôn với bà Đặng Thị Trúc M.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Trúc M “Tranh chấp chia tài sản khi ly hôn” với ông Nguyễn Văn Đ.
- Giao cho bà Đặng Thị Trúc M được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 431, diện tích 301,7m², loại đất NTS và thửa đất số 139, diện tích 583,4m² loại đất ONT và được quyền hữu căn nhà cấp 4 (nhà ở), nhà tạm và nhà vệ sinh trên thửa đất 139, cùng tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Giao ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 282, diện tích 2.743,2m², tờ bản đồ số 12, loại đất LUC, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
- Buộc bà Đặng Thị Trúc M có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ giá trị tài sản được hưởng chênh lệch là 333.101.582 đồng. (Ba trăm ba mươi ba triệu một trăm lẻ một nghìn năm trăm tám mươi hai đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Các đương sự gồm ông Nguyễn Văn Đ và bà Đặng Thị Trúc M có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành làm thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh cập nhật biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 431, 139 và 282 theo quy định của pháp luật đất đai.
- Vị trí, kích thước, tứ cận của các thửa đất số 431 và 139 được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 227-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và duyệt ngày 24/8/2023. (Mảnh trích đo địa chính được kèm theo bản án này).
- Vị trí, kích thước, tứ cận của thửa đất số 282 được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 228-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và duyệt ngày 24/8/2023. (Mảnh trích đo địa chính được kèm theo bản án này).
- Văn phòng đăng ký đất đai, C1, cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào Bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh, cập nhật biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 8.002.600 (Tám triệu không trăm lẻ hai nghìn sáu trăm đồng): Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 4.353.100 đồng và bà Đặng Thị Trúc M phải chịu 3.467.500 đồng. Do bà Đặng Thị Trúc M đã tạm ứng xong phần chi phí này nên buộc ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Đặng Thị Trúc M số tiền là 4.353.100 đồng (Bốn triệu ba trăm năm mươi ba nghìn một trăm đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí:
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 36.806.328 đồng (Ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ sáu nghìn ba trăm hai mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn Đ đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003336 ngày 30/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn Đ phải nộp tiếp số tiền án phí là 36.806.328 đồng (Ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ sáu nghìn ba trăm hai mươi tám đồng)
- Buộc bà Đặng Thị Trúc M phải chịu 29.289.168 đồng (Hai mươi chín triệu hai trăm tám mươi chín nghìn một trăm sáu mươi tám đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp là 9.188.000 đồng (Chín triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004868 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Bà Đặng Thị Trúc M phải nộp tiếp tiền án phí là 20.101.168 đồng (Hai mươi triệu một trăm lẻ một nghìn một trăm sáu mươi tám đồng) nộp vào ngân sách nhà nước).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý chia các thửa đất số 139, 282, 431 cho bà M vì đây là tài sản ông Đ được cha mẹ tặng cho riêng. Đối với giá trị nhà trên đất ông Đ đồng ý chia cho bà M ½ giá trị, số tiền 121.466.238 đồng, ông Đ được nhận căn nhà. Bà M và hai con chung tìm nơi khác sinh sống.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, bị đơn bà Đặng Thị Trúc M kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định các thửa đất số 139, 282, 431 là tài sản chung của vợ chồng và chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M được chia 70% giá trị quyền sử dụng 03 thửa đất trên, bà M nhận hiện vật để mẹ con bà tiếp tục có chỗ ở, bà sẽ hoàn trả cho ông Đ 30% giá trị quyền sử dụng đất theo Biên bản định giá.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Ông Đặng Trường C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn bà Đặng Thị Trúc M vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Trúc P, anh Nguyễn Phú Q (là con ruột ông Đ, bà M) thống nhất với ý kiến của bà M. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chia cho bà M 70% giá trị quyền sử dụng 03 thửa đất 139, 282, 431, bà M nhận hiện vật và thối tiền lại cho ông Đ 30% giá trị để ba mẹ con tiếp tục có chỗ ở và canh tác. Ông Đ hiện nay sống ở An Giang và có nhà ở nên không có nhu cầu nhận nhà.
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất sử dụng Mảnh trích đo địa chính số 227 và 228 - 2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai tại huyện T đo đạc và duyệt ngày 24/8/2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 14/4/2024 của Hội đồng định giá Phòng Tài chính Kế hoạch huyện T dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của ông Đ, bà M đúng quy định tại Điều 272, 273, 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Đặng Thị Trúc M:
- Đối với ba thửa đất số 139, 431, 282: Bản án sơ thẩm xác định các thửa đất số 139, 431, 282 là tài sản riêng của ông Đ vì ngày 20/4/2009 ông Đ được cha ruột là ông Nguyễn Văn H tặng cho, hợp đồng tặng cho không có tên và chữ ký của bà M. Trong quá trình chung sống đến thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án cũng không có văn bản nào của ông Đ và bà M thỏa thuận 03 thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng. Ba thửa đất trên có giá trị là 1.216.174.320 đồng, nhưng từ lúc kết hôn cho đến nay, bà M là người trực tiếp quản lý, sử dụng, tôn tạo, duy trì khối tài sản này; cụ thể bà M là người trực tiếp canh tác trồng lúa trên thửa đất 282, có tráng sân nền trên thửa đất 431; trong khi đó, ông Đ không có canh tác và sinh sống tại các thửa đất nêu trên từ năm 2015 cho đến nay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chia công sức đóng góp quản lý, tôn tạo, duy trì cho bà M đối với 03 thửa đất nêu trên với tỷ lệ được hưởng là 40% trên tổng giá trị 03 thửa đất tương ứng số tiền 486.469.728 đồng và ông Đ được hưởng 60% trên tổng giá trị 03 thửa đất tương ứng là 729.704.592 đồng là phù hợp.
- Đối với yêu cầu được nhận nhà của ông Đ: Căn nhà cấp 4, nhà tạm, nhà vệ sinh trên thửa đất số 139 có giá trị là 242.932.476 đồng. Xét về công sức đóng góp, gìn giữ và duy trì đối với khối tài sản này thì ông Đ là người đã bỏ đi hơn 09 năm; bà M là người trực tiếp quản lý, gìn giữ, duy trì khối tài sản này nên cần phải chia cho bà M được hưởng nhiều hơn ông Đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà M được hưởng 60% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 145.759.486 đồng và ông Đ được hưởng 40% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 97.172.900 đồng; bà M được nhận nhà và các công trình phụ trên đất là phù hợp.
Do, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà M. Giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ và bị đơn bà Đặng Thị Trúc M được làm đúng theo quy định tại Điều 272 và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà Đặng Thị Trúc M, bà M không đồng ý ly hôn. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đ với bà M, các bên không có kháng cáo. Đối với con chung: Hai con chung đều đã trưởng thành. Về tài sản chung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định khối tài sản gồm phần đất thuộc các thửa 139, 431, 282, cùng tờ bản đồ số 12, loại đất ONT (thửa 139), loại đất NTS (thửa 431), loại đất LUC (thửa 282) tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An là tài sản riêng của ông Đ, chia công sức đóng góp cho bà M bằng 40% giá trị tài sản. Đối với giá trị nhà trên đất, chia cho bà M được hưởng 60% giá trị và được nhận nhà, bà M thối lại ông Đ 40% giá trị nhà. Về nợ chung: Không có. Ông Đ kháng cáo không đồng ý chia công sức đóng góp cho bà M đối với 03 thửa đất vì ông được cha mẹ tặng cho riêng; ông Đ không đồng ý chia 60% giá trị nhà và bà M được nhận hiện vật. Bà M kháng cáo yêu cầu được chia 70% giá trị ba thửa đất số 139, 431, 282. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét các nội dung kháng cáo của ông Đ và bà M.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ không đồng ý chia 40% giá trị các thửa đất số 139, 282, 431 cho bà M vì đây là tài sản riêng của ông Đ, thấy rằng:
[3.1] Trong quá trình tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm, ông Đ và bà M đều trình bày thống nhất vợ chồng sống chung từ năm 1998, có hai con chung sinh năm 1999 và năm 2002 nhưng đến ngày 14/10/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An. Ngày 20/4/2009 ông Nguyễn Văn H lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ đối với các thửa đất số 476, 477, 490 (thửa mới nay là 139, 282 và 431), tờ bản đồ số 12 có diện tích 4010m² gồm loại đất ở tại nông thôn, đất NTS và đất LUC tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Việc ông Hai T cho quyền sử dụng ba thửa đất trên trong thời kỳ hôn nhân của ông Đ và bà M nên được xem là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:... “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. Ông Đ không cung cấp được chứng cứ để chứng minh tài sản mà bà M đang tranh chấp là tài sản riêng, bà M cũng không có văn bản xác nhận ba thửa đất trên là tài sản riêng của ông Đ được cha mẹ tặng cho trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, bà M có cung cấp Sổ vay vốn ngày 04/10/2012, ông Đ và bà M đứng ra vay số tiền 25.000.000 đồng, đến nay đã trả nợ xong. Thực tế bà M trực tiếp canh tác lúa từ năm 2009 cho đến nay, ông Đ đi sà lan mỗi năm về nhà vài lần, bà M ở nhà vừa làm ruộng nuôi con và mỗi năm cúng ba cái đám giỗ gia đình bên chồng. Việc bà M trực tiếp canh tác đất từ năm 2009 đến nay, nuôi con và cúng giỗ cũng được mẹ ruột ông Đ là bà Nguyễn Thị B và hai con chung ông Đ, bà M thừa nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ba thửa đất nêu trên là tài sản riêng của ông Đ và xem xét công sức quản lý, tôn tạo, duy trì và giữ gìn 03 thửa đất nêu trên và chia cho bà M 40% giá trị tương ứng số tiền là 486.469.728 đồng là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà M. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm đối với phần này, giá trị quyền sử dụng ba thửa đất là 1.216.174.320 đồng, chia cho bà M được hưởng 50% giá trị là 608.087.160 đồng, bà M được nhận hai thửa đất số 139, 431; ông Đ được hưởng 50% giá trị là 608.087.160 đồng và được nhận thửa 282; bà M có trách nhiệm thối hoàn giá trị chênh lệch cho ông Đ. Do đó, kháng cáo của ông Đ là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ chỉ đồng ý chia cho bà M ½ giá trị căn nhà, số tiền 121.466.238 đồng nhưng ông Đ được nhận căn nhà, thấy rằng: Căn nhà cấp 4, nhà tạm, nhà vệ sinh trên thửa đất số 139 có trị giá là 242.932.476 đồng. Ông Đ đã đi làm ăn xa hơn 09 năm, thỉnh thoảng ngày giỗ tết mới về thăm nhà; bà M là người trực tiếp quản lý, gìn giữ, duy trì khối tài sản này và chăm sóc, nuôi dạy con chung. Xét về nhu cầu sử dụng nhà đất thì bà M là người có nhu cầu sử dụng nhà và hai thửa đất 139, 431 nhiều hơn ông Đ. Hiện nay, bà M và hai con chung với ông Đ cũng không có chỗ ở nào khác và bà M có công sức nhiều hơn ông Đ trong việc giữ gìn nhà nên Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà M được hưởng 60% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 145.759.486 đồng và ông Đ được hưởng 40% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 97.172.990 đồng là phù hợp. Do đó, kháng cáo của ông Đ là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với kháng cáo của bà Đặng Thị Trúc M đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định các thửa đất số 139, 282, 431 là tài sản chung của vợ chồng và chấp nhận yêu cầu của bà M được chia 70% giá trị quyền sử dụng 03 thửa đất trên, bà M nhận hiện vật để mẹ con bà tiếp tục có chỗ ở, thấy rằng: Như đã phân tích ở mục [3.1], nguồn gốc 03 thửa đất số 139, 282, 431, cùng tờ bản đồ số 12, loại đất ONT (thửa 139), loại đất NTS (thửa 431), loại đất LUC (thửa 282) tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An là của cha mẹ ông Đ tặng cho vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên chia cho ông Đ và bà M mỗi người được hưởng 50% giá trị quyền sử dụng đất là phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà M được nhận thửa 139 có nhà ở và công trình phụ trên đất, thửa 431 liền kề ngôi và được hưởng 60% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 145.759.486 đồng và ông Đ được hưởng 40% giá trị tài sản trên thửa đất 139 tương ứng số tiền 97.172.990 đồng là có xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh của mẹ con bà M. Do đó, kháng cáo của bà M yêu cầu được chia 70% giá trị quyền sử dụng đất là có căn cứ chấp nhận một phần.
[5] Như vậy, tổng giá trị tài sản bà Đặng Thị Trúc M được hưởng là 753.846.646 đồng; tổng giá trị tài sản ông Nguyễn Văn Đ được hưởng là 705.260.150 đồng. Bà M được giao quyền sử dụng thửa đất số 431, 139 và được sở hữu toàn bộ căn nhà cấp 4, nhà tạm, nhà vệ sinh trên thửa đất số 139 có giá trị tổng cộng 965.330.796 đồng là nhiều hơn tổng giá trị bà M được hưởng (753.846.646 đồng). Ông Nguyễn Văn Đ được quản lý, sử dụng thửa đất số 282 có giá trị 493.776.000 dồng, do đó bà M có trách nhiệm hoàn trả giá trị chênh lệch cho ông Đ, số tiền 211.484.150 đồng.
[6] Về chi phí tố tụng và án phí: Do quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng nên ông Đ và bà M mỗi người phải chịu ½ chi phí tố tụng và chịu án phí trên số tiền được chia.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí theo quy định. Bà Đặng Thị Trúc M không phải chịu án phí.
[9] Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Trúc M.
Sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ về việc “Ly hôn” đối với bà Đặng Thị Trúc M.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn Đ được ly hôn với bà Đặng Thị Trúc M.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Trúc M về việc “Tranh chấp chia tài sản khi ly hôn” với ông Nguyễn Văn Đ.
- Giao cho bà Đặng Thị Trúc M được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 431, diện tích 301,7m², loại đất NTS và thửa đất số 139, diện tích 583,4m² loại đất ONT và được quyền hữu căn nhà cấp 4 (nhà ở), nhà tạm và nhà vệ sinh trên thửa đất 139, cùng tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
(Vị trí, kích thước, tứ cận của các thửa đất số 431 và 139 được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 227-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và duyệt ngày 24/8/2023; Mảnh trích đo địa chính được kèm theo bản án này).
- Giao ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 282, diện tích 2.743,2m², tờ bản đồ số 12, loại đất LUC, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
(Vị trí, kích thước, tứ cận của thửa đất số 282 được thể hiện theo Mảnh trích đo địa chính số 228-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và duyệt ngày 24/8/2023; Mảnh trích đo địa chính được kèm theo bản án này).
- Buộc bà Đặng Thị Trúc M có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ giá trị tài sản được hưởng chênh lệch là 211.484.150 đồng. (Hai trăm mười một triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn một trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đặng Thị Trúc M có quyền và nghĩa vụ liên hệ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành làm thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh cập nhật biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 431, 139 và 282 theo quy định của pháp luật đất đai.
- Văn phòng đăng ký đất đai, C1, cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh, cập nhật biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Giao cho bà Đặng Thị Trúc M được quyền sử dụng đất tại thửa đất số 431, diện tích 301,7m², loại đất NTS và thửa đất số 139, diện tích 583,4m² loại đất ONT và được quyền hữu căn nhà cấp 4 (nhà ở), nhà tạm và nhà vệ sinh trên thửa đất 139, cùng tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 8.002.600 (Tám triệu không trăm lẻ hai nghìn sáu trăm đồng): Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 4.001.300 đồng và bà Đặng Thị Trúc M phải chịu 4.001.300 đồng. Do bà Đặng Thị Trúc M đã tạm ứng xong phần chi phí này nên buộc ông Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Đặng Thị Trúc M số tiền 4.001.300 đồng (Bốn triệu không trăm lẻ một nghìn ba trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí:
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 32.210.406 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm do được chia tài sản nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Văn Đ đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003336 ngày 30/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn Đ còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 32.210.406 đồng (Ba mươi hai triệu hai trăm lẻ mười nghìn bốn trăm lẻ sáu đồng).
- Buộc bà Đặng Thị Trúc M phải chịu 34.153.866 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm năm mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm do được chia tài sản, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà M đã nộp là 9.188.000 đồng (Chín triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004868 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Bà Đặng Thị Trúc M còn phải nộp tiếp số tiền 24.965.866 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi nghìn tám trăm sáu mươi sáu đồng).
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009672 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An sang thi hành án phí.
- Bà Đặng Thị Trúc M không phải chịu án phí. Hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009673 ngày 09/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cho bà M.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thiện Tâm – Nguyễn Thị Mỹ Hạnh | Đinh Thị Ngọc Yến |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ "Tranh chấp ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn" Đặng Thị Trúc M
