|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-PT
Ngày 19 và 25/3/2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nam
Ông Nguyễn Văn Tính
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 58/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 15/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số B, phố Đ, phường H, thị xã T, Bắc Ninh. Có mặt;
- Bị đơn: Ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1), sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H1: Luật sư Nguyễn Văn T - Công ty L2, Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tòa B Phương Đông G T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đăng C, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, Bắc Ninh. (Bà H2 ủy quyền cho ông C). Có mặt;
- Anh Trần Mạnh H3, sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, Bắc Ninh. (Chị L ủy quyền cho anh H3). Có mặt;
- Chị Hồ Thị H4, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, Bắc Ninh. Vắng mặt;
- Ngân hàng N (A); Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T1, Giám đốc A, Chi nhánh T3. Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trí C1, Giám đốc A, Phòng G1; Địa chỉ: Phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Xin xét xử vắng mặt;
Người kháng cáo: Ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
*Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà kết hôn với ông Trần Xuân H năm 1990, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và có 02 con chung tên là Trần Mạnh H3, sinh năm 1991 và Trần Thị Hải Y, sinh năm 1993.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H không tôn trọng bà. Tháng 01/2021, ông H làm đơn xin ly hôn. Ngày 05/02/2021, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đã công nhận thuận tình ly hôn giữa bà và ông H. Về tài sản chung, công nợ thời điểm đó ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung của bà và ông H tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân gồm:
- Thửa đất số 94, tờ bản đồ 14p, diện tích 407,8m² tại thôn N, xã H, thị xã T (viết tắt là thửa đất số 94). Nguồn gốc đất là của bố mẹ ông H cho vợ chồng. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là giấy CNQSDĐ) tên vợ chồng ngày 30/10/2003.
- Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng tổng diện tích khoảng 300m² do vợ chồng xây năm 1998, sửa lại năm 2013; tiền xây nhà là của vợ chồng. Thời điểm đó các con đang đi học nên không có công sức, tiền đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng.
- Năm 2019, vợ chồng xây 01 ngôi nhà 3 tầng, 01 dãy nhà trọ 3 tầng có 25 phòng trọ khép kín. Tiền xây nhà là của vợ chồng. Các con đã trưởng thành nhưng cũng không có công sức, tiền đóng góp vào khối tài sản của vợ chồng.
- Thửa đất số 104, tờ bản đồ 14p, diện tích 100,6m² tại thôn N, xã H, thị xã T. Nguồn gốc đất là do vợ chồng mua của thôn N năm 2007. Các con cũng không đóng góp gì vào khối tài sản chung của vợ chồng. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ tên vợ chồng ngày 06/7/2011. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 đã cũ nát không còn giá trị sử dụng.
Ngày 04/02/2021, gia đình bà đã có biên bản họp gia đình chia tài sản cho vợ chồng và cháu H3 nhưng ông H không thực hiện.
Bà Đ khởi kiện yêu cầu chia: Thửa đất số 104, tờ bản đồ 14p, diện tích 100,6m² và chia khoản tiền ông H thu được từ việc cho thuê 25 phòng trọ từ tháng 02/2021 đến khi khởi kiện là 33 tháng: 25 phòng x 1.200.000đ/tháng x 33 tháng = 990.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 03/6/2024 bà Đ có đơn xin rút yêu cầu đối với 20,5m² của thửa đất số trên và rút yêu cầu đối với số tiền 990.000.000₫ thu được từ việc cho thuê 25 phòng trọ.
Bà yêu cầu chia tài sản chung gồm: Thửa đất số 104, diện tích 80,1m², tờ bản đồ số 14p, tại thôn N, xã H, thị xã T (viết tắt là thửa đất số 104); thửa đất số 94 và tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà 3 tầng, 01 dãy nhà trọ 3 tầng theo quy định của pháp luật. Bà yêu cầu chia bằng hiện vật.
- Về công nợ: Ngày 12/11/2020 vợ chồng có vay Ngân hàng N chi nhánh huyện T3, phòng G1 (viết tắt là A) số tiền 2 tỉ đồng để xây nhà trọ và làm ăn kinh doanh, đã trả được 1,2 tỷ đồng, còn nợ 800.000.000₫.
Ngày 04/9/2024, bà đã trả A số nợ gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 7.000.000đ, tổng cộng là 807.000.000đ. Bà đề nghị Tòa án xem xét buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho bà ½ số tiền này.
*Bị đơn là ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1) trình bày: Ông xác nhận lời trình bày của bà Đ về kết hôn, ly hôn, con chung là đúng.
- Thửa đất số 94: Nguồn gốc đất là của bố mẹ ông (cụ Trần Đăng L1 và cụ Trần Thị T2) để lại cho ông từ năm 1992, bố mẹ ông chết năm 2017. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ ngày 30/10/2003 mang tên ông. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng tổng diện tích khoảng 300m² do vợ chồng xây (năm 1998 xây 1,5 tầng, đến năm 2013 sửa thành nhà 3 tầng). Tiền xây nhà là của vợ chồng, các con không có công sức, tiền đóng góp. Năm 2019, vợ chồng xây 01 dãy nhà trọ 3 tầng tổng là 21 phòng trọ khép kín. Tiền xây nhà trọ là của vợ chồng và đi vay, các con đã trưởng thành nhưng cũng không đóng góp gì vào khối tài sản chung của vợ chồng.
- Hiện tại, ông sử dụng phần đất có dãy nhà trọ, con trai lớn là Trần Mạnh H3 sử dụng phần đất có ngôi nhà 3 tầng. Ông đã cho con gái là Trần Thị Hải Y 400.000.000₫ để mua đất chỗ khác.
- Thửa đất số 104, diện tích 100,6m² là do vợ chồng ông và em trai ông mua của thôn N và xã H từ năm 2010. Vợ chồng mua 77,6m², em trai ông là Trần Đăng C mua 23m², các con không đóng góp gì. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ tên vợ chồng ngày 06/7/2011. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 đã cũ nát không còn giá trị sử dụng. Hiện nay thửa đất trên đang để không.
- Nay bà Đ yêu cầu chia thửa đất số 94 thì ông không đồng ý vì đây là đất của bố mẹ ông để lại cho ông, vợ chồng đã cho con trai đất, cho con gái tiền rồi. Ông chỉ đồng ý chia tài sản trên thửa đất số 94 và chia thửa đất số 104.
- Về công nợ: Tháng 11/2020, vợ chồng vay A 2 tỉ đồng để xây nhà trọ và làm ăn buôn bán vàng mã, đã trả được 1,2 tỷ đồng, còn nợ 800.000.000đ. Nay bà Đ đề nghị chia khoản nợ này thì ông cũng đồng ý.
- Ngày 19/12/2023, ông yêu cầu chia 01 chiếc xe ô tô tải HYUNDAI 2,5 tấn, BKS: 99C-105.73 hiện bà Đ đang sử dụng để buôn án kinh doanh vàng mã, chiếc xe trị giá khoảng 200.000.000₫.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đăng C và bà Nguyễn Thị H2 do ông C đại diện trình bày: Thửa đất số 104, diện tích 100,6m² có nguồn gốc đất là của nhà mẫu giáo của thôn N. Năm 2020 nhà mẫu giáo không sử dụng nên thôn N và xã H đã nhượng lại cho vợ chồng ông và vợ chồng ông H1. Vì một phần thửa đất số 104 (khoảng 23m²) có sang đất nhà ông nên vợ chồng ông có mua chung với vợ chồng ông H1 cho vuông đất. Tiền mua đất hết bao nhiêu ông không biết, ông chỉ biết đưa cho bà Đ số tiền hơn 40.000.000₫ đối với 23m² đất, khi giao tiền chỉ đưa tay, không viết giấy tờ gì, hai bên thỏa thuận thống nhất sổ đỏ đứng tên vợ chồng ông H1. Vợ chồng ông sử dụng diện tích 23m² từ năm 2010. Năm 2021 vợ chồng ông xây 01 ngôi nhà 3 tầng kiên cố trên đất. Nay ông H1, bà Đ vẫn chưa làm thủ tục chuyển 23m² cho vợ chồng ông. Tòa án đã cho ông xem bản trích đo hiện trạng thì được biết phần đất vợ chồng ông sử dụng có diện tích 20,5m² của thửa 104. Nay bà Đ yêu cầu chia tài sản đối với thửa đất số 104, trong đó có 20,5m² vợ chồng ông đang sử dụng, quan điểm của ông sẽ tự thỏa thuận với ông H1, bà Đ, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Anh Trần Mạnh H3 và chị Nguyễn Thị L do anh H3 đại diện trình bày: Ông H1, bà Đ có 2 con chung là anh và chị Y. Thửa đất số 94 nguồn gốc đất là của ông bà nội để lại cho bố mẹ anh, đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ tên bố anh. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng do bố mẹ anh xây (năm 1998 là 1,5 tầng, năm 2013 sửa thành nhà 3 tầng), 01 dãy nhà trọ 3 tầng tổng là 21 phòng trọ khép kín do bố mẹ anh xây năm 2018. Anh và em gái cũng không có công sức, tiền đóng góp vào khối tài sản chung của bố mẹ. Hiện nay thửa đất 94 do anh và bố anh cùng sử dụng. Vợ chồng anh đang sử dụng ngôi nhà 3 tầng. Thửa đất số 104 là do bố mẹ anh mua của thôn N. Tiền mua đất là của bố mẹ anh, anh và em gái không đóng góp gì. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ tên bố mẹ anh. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 đã cũ nát không còn giá trị sử dụng. Tháng 02/2021 bố mẹ anh đã có biên bản tự phân chia tài sản rồi, tuy nhiên bố anh mỗi lúc lại lấn một tý, không thực hiện theo biên bản đã phân chia. Nay mẹ anh yêu cầu tài sản chung thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Chị Hồ Thị H4 trình bày: Chị kết hôn với ông H1 năm 2021, có đăng ký kết hôn. Năm 2023 chị và ông H1 có xây 01 ngôi nhà 2 tầng phía trên lợp tôn trên một phần thửa đất số 94 để ở và bán hàng. Nay bà Đ yêu cầu chia thửa đất số 94 thì đó là việc của bà Đ, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Vì lý do bận công việc không thể có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập được, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong các buổi làm việc và xét xử.
- Đại diện A là ông Nguyễn Trí C1 trình bày: Ngày 12/11/2020 A, chi nhánh huyện T3, Phòng giao dịch phố Hồ ký Hợp đồng tín dụng số: 2607-LAV-202002202 với bà Nguyễn Thị Đ. Nội dung Ngân hàng cho bà Đ vay số tiền 2 tỷ đồng, lãi suất 9,5%/năm, thời hạn 60 tháng, mục đích xây dựng cơ sở kinh doanh giấy màu. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ngày 13/4/2020 A và ông H1, bà Đ có ký 01 Hợp đồng thế chấp số: 2607-LCL-202000456 tại Văn phòng C2, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản thế chấp là thửa đất số 94, theo giấy CNQSDĐ số S 818540 do UBND huyện T cấp ngày 30/10/2003 cho ông H1, bà Đ. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H1, bà Đ đã trả được 1,2 tỷ đồng tiền gốc và lãi đến ngày 25/6/2024. Hiện còn nợ 800.000.000đ tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 04/9/2024, bà Đ đã trả số nợ gốc là 800.000.000₫ và 7.000.000đ tiền lãi phát sinh. Ngày 09/9/2024, A có văn bản rút yêu cầu độc lập đối với số tiền 800.000.000₫ ông H1, bà Đ phải trả và tài sản bảo đảm là thửa đất số 94, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số: 58/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã căn cứ điều 59, 62 Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ điều 235, 264, 266, 147, 157, 165, 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
1. Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu chia 20,5m² của thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 100,6m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
2. Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ đối với yêu cầu chia số tiền 990.000.000đồng thu được từ việc cho thuê 25 phòng trọ.
3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của A yêu cầu ông H1, bà Đ phải trả số tiền 800.000.000đồng, lãi phát sinh và tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 407,8m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
Xác nhận thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 407,8m² và tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 03 tầng tổng diện tích xây dựng là 296,7m² + 01 dãy nhà trọ 3 tầng tổng diện tích xây dựng là 495,3m² và thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 80,1m² đều tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1) và bà Nguyễn Thị Đ, tổng tài sản trị giá là 9.438.214.000₫.
Giao cho ông H1 được quyền sử dụng thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 261,5m² và được sở hữu 01 dãy nhà trọ 3 tầng trên đất có tổng diện tích xây dựng là 495,3m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị tài sản là 5.704.156.000đ. (Mốc: B, C, D, E, F, P, K, L, B).
Giao cho bà Đ được quyền sử dụng thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 146,3m² và được sở hữu 01 ngôi nhà 03 tầng tổng diện tích xây dựng là 296,7m². (Mốc: Á, B, L, M, M’, O, A') và được quyền sử dụng thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 80,1m². (Mốc P, F, G, H, I, K, P) đều tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị tài sản là 3.734.058.000đ. (Có sơ đồ kèm theo, là bộ phận không tách dời của bản án).
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động cấp giấy CNQSDĐ theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận ngày 04/9/2024 bà Đ đã trả cho A số tiền 807.000.000đ.
Ông H1 phải có nghĩa vụ trích trả chênh lệch tài sản cho bà Đ số tiền 348.349.000đ và số tiền 403.500.000₫ bà Đ đã trả nợ cho A, tổng cộng là 751.849.000₫ (Bẩy trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/9/2024, ông Trần Đăng H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Luật sư T là người bảo vệ quyền và lợi ích cho ông H1 phát biểu quan điểm tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông H1. Đề nghị xem xét cả nghĩa vụ chung của vợ chồng về phần nợ chung và xem xét cho ông H1 được nhận thửa đất số 104 hoặc chia cho ông H1 thêm diện tích đất tại thửa 104 để có ngõ đi to hơn và ông H1 trích trả chị Đ với giá 15 triệu đồng/m².
Ông H1 không tham gia tranh luận.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Xuân H. Về phần nợ chung là 620.000.000đồng thì bà Đ xác nhận là nợ chung của vợ chồng và xác nhận ông H đã đưa bà Đ 480.000.000 đồng và đề nghị được chia đôi số nợ này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Đăng H1, chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Đ về việc chia số nợ chung của vợ chồng là 620.000.000đ (mỗi người trả 310.000.000đồng), sửa bản án sơ thẩm về nợ chung vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Đăng H1 trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2]. Về nội dung: Bà Đ và ông H1 đã tự nguyện kết hôn năm 1990 và ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2021/QÐST- HNGĐ ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành. Ngày 29/11/2023, bà Đ có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là có căn cứ.
- [3]. Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Xuân H, Hội đồng xét xử thấy:
- [3.1]. Đối với thửa đất số 94 và thửa số 104:
- Thửa đất số 94: Nguồn gốc đất là của bố mẹ ông H là cụ Trần Đăng L1 và cụ Trần Thị T2 viết giấy cho ông H (theo đơn kiến nghị về chia đất do cụ Trần Đăng L1 lập). Thửa đất đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H ngày 30/10/2003. Phía ông H trình bày thửa đất số 94 là của bố mẹ ông để lại cho ông. Tuy nhiên ngoài lời trình bày ông không có căn cứ khác để chứng minh. Quá trình sử dụng đất: Năm 1998 ông H, bà Đ xây 01 ngôi nhà 1,5 tầng trên đất; năm 2013 ông H, bà Đ sửa thành nhà 3 tầng, tổng diện tích xây dựng là 296,7m². Năm 2018 ông H, bà Đ xây thêm 01 dãy nhà trọ 3 tầng khép kín, tổng diện tích xây dựng là 495,3m² nhưng không ai có ý kiến thắc mắc gì. Vì vậy, bản án sơ thẩm xác định thửa đất số 94 và toàn bộ tài sản trên đất là tài sản chung của ông H, bà Đ là có căn cứ.
- Thửa đất số 104: Năm 2007 ông H, bà Đ và vợ chồng ông C, bà H2 mua của thôn N và xã H thửa đất số 104, diện tích 100,6m². Đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 06/7/2011 cho ông H, bà Đ. Thực tế ông H, bà Đ sử dụng diện tích 80,1m²; ông C, bà H2 sử dụng 20,5m². Các đương sự đều thống nhất nội dung như trên nên bản án sơ thẩm xác định thửa đất số 104 diện tích 80,1m² tại thôn N, xã H, thị xã T là tài sản chung của ông H, bà Đ là phù hợp.
- Quá trình tạo dựng khối tài sản trên, các con của ông H bà Đ không có công sức, tiền đóng góp và không có yêu cầu gì nên bản án sơ thẩm không xem xét quyền lợi của con chung là có căn cứ.
- Bản án sơ thẩm, xét thấy thửa đất số 94 có nguồn gốc của bố mẹ ông H để lại, nên chia cho ông H 60% giá trị thửa đất tương đương 244,68m², chia cho bà Đ 40% giá trị thửa đất tương đương 163,12m² là phù hợp. Phần tài sản trên thửa đất số 94 (gồm có: 01 ngôi nhà 3 tầng + 01 dãy nhà trọ khép kín) và thửa đất số 104, diện tích 80,1m² là do ông H, bà Đ cùng tạo lập nên bản án sơ thẩm chia đôi mỗi người được hưởng ½ giá trị tài sản là có căn cứ.
- Bản án sơ thẩm xác định bà Đ chưa có chỗ ở ổn định nên đã: Giao cho bà Đ được sử dụng diện tích 146,3m² của thửa số 94 và sở hữu ngôi nhà 3 tầng trên đất; được sử dụng thửa đất số 104, diện tích 80,1m². Tổng trị giá là 3.784.058.000₫. Giao cho ông H được sử dụng diện tích 261,5m² của thửa số 94 và sở hữu 01 dãy nhà trọ 3 tầng trên đất. Tổng trị giá là 5.704.156.000đ. Nhưng ông H phải có nghĩa vụ trả cho bà Đ 348.349.000đ tiền chênh lệch tài sản.
- Luật sư bảo vệ quyền và nghĩa vụ của ông H cho rằng lối đi vào nhà trọ hẹp, không đảm bảo điều kiện phòng cháy chữa cháy nên đề nghị tòa án cắt một phần thửa đất số 104 (kích thước 1m x 10m) nhập vào phần đất chia cho ông H để mở rộng lối đi vào phòng trọ. Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để xác minh và xem xét điều kiện phòng cháy chữa cháy của khu nhà trọ thì thấy: Theo quy định về phòng cháy, chữa cháy thì khu nhà trọ của ông H đủ điều kiện về đường đi, lối vào khu nhà trọ nhưng chưa đủ điều kiện vật chất về phòng cháy chữa cháy (là do thiếu cầu thang thoát hiểm và chưa trang bị bình cứu hỏa theo quy định). Như vậy, đề nghị của luật sư về việc không có lối thoát hiểm hoặc lối thoát hiểm hẹp không được chấp nhận. Hơn nữa, ngôi nhà 3 tầng ông H, bà Đ xác định đã cho anh H3, hiện tại vợ chồng anh H3 vẫn sinh sống trên đất. Tại phiên tòa, bà Đ trình bày nếu được chia ngôi nhà 3 tầng thì bà cũng đồng ý cho anh H3, còn bà sử dụng thửa đất số 104. Vì vậy, bản án sơ thẩm đã chia tài sản cho bà Đ và ông H như trên là phù hợp.
- [3.2] Về công nợ: Tại Biên bản họp gia đình ngày 04/02/2021 (BL 08) và tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và bà Đ thống nhất khoản nợ chung của vợ chồng gồm: A 02 tỷ đồng, Quỹ tính dụng xã H 150.000.000 đồng và 620.000.000đồng (do bà Đ vay của người khác). Tổng nợ là 2.770.000.000 đồng. Trong đó, ông H quản lý 1,2 tỷ đồng tiền mặt của vợ chồng (số tiền này ông H đã trả A). Vì vậy, số nợ chung của vợ chồng còn lại là: 2.770.000.000 đồng – 1.200.000.000 đồng = 1.570.000.000 đồng. Mỗi vợ chồng phải trả là: 1.570.000.000 đồng : 2 = 785.000.000 đồng. Ông H đã trả Quỹ tín dụng xã H là 150.000.000 đồng, đưa bà Đ là 480.000.000 đồng, tổng cộng là 630.000.000 đồng, ông H còn phải trả là 785.000.000 đồng - 630.000.000 đồng = 155.000.000 đồng. Do các khoản nợ còn lại của vợ chồng là do bà Đ trả (trả A là 800.000.000 đồng, trả ngoài là 620.000.000 đồng) nên ông H phải trả cho bà Đ số tiền nợ còn thiếu là 155.000.000 đồng.
- [3.1]. Đối với thửa đất số 94 và thửa số 104:
- Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Đăng H1, chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Đ về việc chia số nợ chung của vợ chồng là 620.000.000đ (mỗi người trả 310.000.000đồng), sửa bản án sơ thẩm về nợ chung vợ chồng.
- Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5]. Án phí: Do sửa án sơ thẩm nên ông Trần Xuân H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Xuân H (Trần Đăng H1); Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Đ về việc chia số nợ chung của vợ chồng; sửa bản án sơ thẩm về nợ chung vợ chồng.
Căn cứ điều 59, 62 Luật hôn nhân gia đình; điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu chia 20,5m² của thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 100,6m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ đối với yêu cầu chia số tiền 990.000.000₫ thu được từ việc cho thuê 25 phòng trọ.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của A yêu cầu ông H1, bà Đ phải trả số tiền 800.000.000đồng, lãi phát sinh và tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 407,8m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
- Xác nhận: Thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P, diện tích 407,8m² và tài sản trên đất là ngôi nhà 03 tầng tổng diện tích xây dựng là 296,7m² + 01 dãy nhà trọ 3 tầng tổng diện tích xây dựng là 495,3m²; Thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 80,1m² đều tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1) và bà Nguyễn Thị Đ, tổng tài sản trị giá là 9.438.214.000₫.
- Giao cho ông Trần Xuân H (tức Trần Đăng H1) sử dụng 261,5m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P và sở hữu 01 dãy nhà trọ 3 tầng trên đất có tổng diện tích xây dựng là 495,3m² tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị tài sản là 5.704.156.000đồng (phần đất được giới hạn bởi các điểm: L-B-C-D-E-F-P-K-B).
- Giao cho bà Nguyễn Thị Đ sử dụng 146,3m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ 14P và sở hữu 01 ngôi nhà 03 tầng trên đất có tổng diện tích xây dựng là 296,7m² (phần đất được giới hạn bởi các điểm: M’-O-A-Á-B-L-M-M’) và được sử dụng thửa đất số 104, tờ bản đồ 14P, diện tích 80,1m² (phần đất được giới hạn bởi các điểm: K-P-F-G-H-I-K) đều tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổng giá trị tài sản là 3.734.058.000đồng. (Có sơ đồ kèm theo, là bộ phận không tách dời của bản án).
- Các đương sự được quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ (nếu có).
- Ghi nhận ngày 04/9/2024 bà Đ đã trả cho A số tiền 807.000.000 đồng.
- Ông H1 phải có nghĩa vụ trích trả cho bà Đ tiền chênh lệch tài sản là 348.349.000 đồng, tiền nợ là 155.000.000 đồng, tổng là 503.349.000 đồng (Năm trăm linh ba triệu ba trăm bốn chín nghìn đồng chẵn).
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
- Án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 94.080.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận bà Đ đã nộp 56.375.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0003486 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành. Bà Đ còn phải nộp tiếp 37.705.000 đồng án phí. Ông Trần Xuân H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ông H phải chịu 112.919.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0001430 ngày 23/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành. Ông H còn phải nộp tiếp 112.619.000 đồng án phí. A không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả cho A 18.000.000đ tiền tạm ứng án phí đãnộp tại biên lai số 0003311, ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.
- Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Xuân H mỗi người phải chịu 8.150.000đồng chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản (xác nhận bà Đ đã nộp 16.300.000đồng, ông H phải trả cho bà Đ 8.150.000đồng). Ông Trần Xuân H phải chịu 4.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2025 (xác nhận ông H đã nộp đủ).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Tính |
Nguyễn Văn Nam |
Nguyễn Tuyết Mai |
11
Bản án số 13/2025/HNGĐ-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia tài sản chung sau ly hôn
