Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 06-3-2025

V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt

Bà Nguyễn Thị Ánh Phương

Thư ký phiên tòa: Ông Âu Lâm Trường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

Ông Dương Thanh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 70/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1991; (có mặt)

Địa chỉ: E Cấp P,ã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H: luật sư Lê Nhật H1 – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Bị đơn: Anh Ngô Văn V, sinh năm 1989; (có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V: Luật sư Nguyễn Thị Huỳnh N - Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (có mặt)

- Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Đoàn Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo án sơ thẩm:

* Nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày:

Chị H và anh V tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, sống chung từ năm 2021 và kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30 ngày 05/5/2022. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 11/2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn bắt nguồn từ việc chị H dẫn 02 cháu về quê mẹ ruột chơi khoảng hơn 02 tháng, sau đó anh Ngô Văn V có đề xuất dẫn các con về lại quê nội để ăn đám giỗ. Lúc này chị H không đồng ý do sợ đám tiệc nhậu nhẹt ảnh hưởng đến giấc ngủ các con. Sau đó anh Ngô Văn V có đến dẫn cháu T về lại quê nội nên vợ chồng ly thân luôn cho đến nay.

Nay tình cảm cũng không còn nhiều, cảm thấy không còn muốn sống chung với nhau nữa nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn V.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020, Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021. Hiện cháu T đang sống cùng anh Ngô Văn V, cháu Kim A đang sống cùng chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Trước đây có yêu cầu anh Ngô Văn V cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng, nay không yêu cầu anh Ngô Văn V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung.

Hiện chị H làm tại Công ty U, Khu công nghiệp G, thu nhập ổn định khoảng 6.000.000 đồng – 7.000.000 đồng/tháng đủ khả năng nuôi các con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng còn nợ các đại lý thức ăn ở B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn anh Ngô Văn V trình bày:

- Về tình cảm: Thống nhất về thời gian kết hôn, chung sống. Tuy nhiên anh không đồng ý về nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn. Giữa vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì lớn, vào tháng 11/2023 anh V đề nghị vợ dẫn con về lại nhà nội để ăn đám giỗ nhưng vợ không đồng ý, sau đó anh V có đến nhà mẹ vợ để rước cháu Ngô Phước T về lại nhà nội và từ đó vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị Đoàn Thị H yêu cầu xin ly hôn, anh V cũng đồng ý.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020, Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021. Hiện cháu T đang sống cùng anh V, cháu Kim A đang sống cùng chị Đoàn Thị H.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh xin được trực tiếp nuôi cháu Ngô Phước T, đồng ý giao cháu Ngô Ngọc Kim A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện anh V chăn nuôi tại nhà, thu nhập ổn định khoảng 8.000.000 đồng – 10.000.000 đồng/tháng đủ khả năng nuôi dưỡng con.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Có nợ chung của các đại lý bán thức ăn khoảng 212.600.000 đồng nhưng không yêu cầu Tòa án xem xét.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đoàn Thị H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn V và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Ngô Phước T, Ngô Ngọc Kim A. Chị yêu cầu anh Ngô Văn V cấp dưỡng nuôi 02 con chung 3.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Anh Ngô Văn V trình bày: Đồng ý thuận tình ly hôn với chị H. Anh yêu cầu được nuôi con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh đồng ý giao con chung tên Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021 cho chị H, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Có nợ chung của các đại lý bán thức ăn khoảng 212.600.000 đồng nhưng không yêu cầu Tòa án xem xét.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H trình bày:

Chị Đoàn Thị H và anh Ngô Văn V thống nhất thuận tình ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung là Ngô Phước T, Ngô Ngọc Kim A là có cơ sở vì: Tại thời điểm mang thai, sinh cháu Phước T tự một mình chị H chăm sóc, anh V không có phụ nuôi con. Anh V cho rằng có mâu thuẫn với cha vợ nên không đến thăm con, đồng thời mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do anh V không chăm sóc vợ con, mê chơi game do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung Ngô Phước T cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

* Tại Bản án sơ thẩm số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị H.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Ngô Văn V.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020 cho anh Ngô Văn V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Đoàn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh V không có yêu cầu.

Giao con chung tên Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021 cho chị Đoàn Thị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh Ngô Văn V cấp dưỡng nuôi cháu Kim A hàng tháng là 1.500.000 đồng đến khi con chung 18 tuổi.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của anh V, chị H hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

* Ngày 07/10/2024, nguyên đơn Đoàn Thị H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo yêu cầu được nuôi con chung là cháu Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn chị H phát biểu và đề nghị: chị H khi mang thai và sinh con chỉ có một mình, chỉ đến khi cháu T một tuổi thì vợ chồng mới chung sống trực tiếp với nhau. Khi giải quyết cấp sơ thẩm không xem xét đến hoàn cảnh người phụ nữ đơn thân khi mang thai và sinh con chỉ một mình lại giao cháu T cho anh V là không có căn cứ, không bảo vệ được cho phụ nữ. Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn anh V phát biểu và đề nghị: việc anh V không thể trực tiếp chăm sóc cho chị H trong thời gian chị H mang thai và sinh cháu T là do sự trở ngại ban đầu khi hai bên đến với nhau. Chị H đi làm công nhân thời gian hạn chế hơn anh V, anh V làm nghề chăn nuôi ở nhà có nhiều thời gian chăm sóc đưa đón con và hiện nay anh V đang trực tiếp chung sống với cha mẹ nên có được sự trợ giúp của cha mẹ trong việc chăm sóc con, còn chị H sống riêng một mình. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H, giữ nguyên án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tốtụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm chị H cho rằng anh V không có đủ điều kiện để chăm sóc con chung nhưng chị H không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Chị H đi làm công nhân thời gian hạn chế hơn anh V, anh V làm nghề chăn nuôi ở nhà có nhiều thời gian chăm sóc đưa đón con. Từ tháng 12/2023 đến nay cháu T đã sống ổn định với anh V, để không làm xáo trộn cuộc sống của cháu, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đoàn Thị H, án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi dưỡng con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm b, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Đơn kháng cáo chị Đoàn Thị H đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Ngày 07/10/2024, nguyên đơn Đoàn Thị H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo yêu cầu được nuôi con chung là cháu Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị Đoàn Thị H:

Về con chung chị H và anh V thống nhất vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020; Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021. Hiện cháu T đang sống cùng anh V, cháu Kim A đang sống cùng chị Đoàn Thị H.

Hội đồng xét xử xét thấy từ tháng 12/2023 anh V, chị H sống ly thân thì con chung tên Phước T được anh Ngô Văn V chăm sóc nuôi dưỡng, con chung phát triển bình thường, có cuộc sống tốt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh V trình bày anh có những điểm sai trong cuộc sống hôn nhân, tuy nhiên anh đã khắc phục những nhược điểm, lo làm ăn nuôi con, đồng thời căn cứ vào biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thì anh V cùng gia đình là công dân tốt, đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc nuôi dưỡng con. Đối với lời trình bày của chị H cho rằng anh V không nuôi dạy con tốt, thường xuyên ăn nhậu ảnh hưởng sự phát triển của con, lời trình bày của chị là không có cơ sở vì chị không có tài liệu chứng minh anh V nuôi con không tốt ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của con. Mặc khác hiện chị H là công nhân, thời gian làm việc có hạn chế nên việc nuôi 02 con chung phần nào sẽ không chu toàn trong việc chăm sóc. Anh V làm nghề chăn nuôi tại nhà có nhiều thời gian.

Xét điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng cháu T giữa anh V và chị H đều có đủ điều kiện. Tuy nhiên, khi chị H và anh V ly hôn, cháu T chỉ phải sống với mẹ hoặc cha đã là sự thiệt thòi cho cháu, do đó giao cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải đảm bảo bù đắp được cho cháu sự thiệt thòi. Cháu T hiện mới hơn bốn tuổi là cháu trai, đang trong lứa tuổi phát triển về mặt thể chất và tinh thần, cần môi trường tốt nhất về thể chất và tinh thần cho cháu. Từ tháng 12/2023 cháu T đang sống trực tiếp với anh V cùng ông bà nội tại huyện C, tỉnh Tiền Giang và để ổn định không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của cháu, do đó án sơ thẩm giao cháu T cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ.

Chị H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị H.

[5] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Xét lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Xét lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh V có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí phúc thẩm: chị H phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị Đoàn Thị H.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về áp dụng án phí, lệ phí.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị H.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị Đoàn Thị H và anh Ngô Văn V.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Ngô Phước T, sinh ngày 10/02/2020 cho anh Ngô Văn V tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Đoàn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh V không có yêu cầu.

Giao con chung tên Ngô Ngọc Kim A, sinh ngày 30/10/2021 cho chị Đoàn Thị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh Ngô Văn V cấp dưỡng nuôi cháu Kim A hàng tháng là 1.500.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của anh V, chị H hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Đoàn Thị H tự nguyện chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí tranh chấp quyền nuôi con. Chị đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007315 ngày 28/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên chị nộp tiếp số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).

Anh Ngô Văn V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án phí phúc thẩm chị Đoàn Thị H phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0008024 ngày 11/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - TAND huyện Chợ Gạo;
  • - CCTHADS huyện Chợ Gạo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Ngọc Tuyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đỗ Thị Minh Nguyệt - Nguyễn Thị Ánh Phương

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Ngọc Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger