TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 13/2025/DSST Ngày: 11-02-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng". | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương A
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Chánh Hiệp.
2. Ông Nguyễn Việt Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên tòa: ông Phạm Trương Nhựt Quang – Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ ngày 07 đến ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 328/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 686/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: B-B-N, Quận C, TP Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 95-97-99, Võ Văn T, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Dương B – Chức vụ: chuyên viên. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Trần Duy K, sinh năm 1989. Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Số A - đường B, KV3, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Ngày 09/09/2022, Ông Trần Duy K có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hợp đồng số 2233455. Căn cứ thu nhập của Ông Trần Duy K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback với hạn mức sử dụng là 70.000.000 đồng. Đến ngày 03/11/2023, Ông Trần Duy K có yêu cầu Ngân hàng nâng hạn mức thẻ tín dụng lên thành 400.000.000 đồng, đồng thời ký giấy đề nghị mở thêm tín dụng Visa Infinite sử dụng chung hạn mức 400.000.000 đồng, hợp đồng số 3007967 (lãi suất trong hạn là 2.48%/tháng tương đương 29.8%/năm) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Trần Duy K đã thực hiện các giao dịch tổng số tiền là 2.343.158.992 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến 20/03/2024 Ông Trần Duy K thanh toán được 1.987.669.798 đồng. Từ kỳ giao dịch ngày 25/01/2024 và ngày 05/02/2024 đến nay qua nhiều lần làm việc nhắc nhỡ nhưng Ông Trần Duy K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Duy K vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của Bảng Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 05/07/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tương đương 3.72%/ tháng và là 44.7%/năm (Điều 23 của Bảng Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 06/02/2025, Ông Trần Duy K còn dư nợ thẻ tín dụng là 576.602.215 đồng, trong đó: Nợ gốc: 453.173.037 đồng, lãi quá hạn: 123.429.178 đồng. Nay ngân hàng yêu cầu ông K có trách nhiệm trả số nợ trên cho ngân hàng và lãi phát sinh từ ngày 07/02/2025 theo hợp đồng tín dụng số 2233455 ngày 09/9/2022 và hợp đồng tín dụng số 3007967 ngày 06/11/2023 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Bị đơn có đơn xin vắng mặt, trong bản tự khai bị đơn ông Trần Duy K trình bày:
Ông K thừa nhận trước đây vào năm 2022 và 2023, ông có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với ngân hàng TMCP S để mở thẻ tín dụng với hạn mức 800.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền tính đến ngày 16/7/2024 là 461.312.675 đồng (trong đó, nợ gốc là 453.173.037 đồng, nợ lãi 8.139.638 đồng) đến nay ông vẫn chưa thanh toán nợ cho ngân hàng.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn có đơn xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hồ sơ giao cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian quy định. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định.
Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và ông Trần Duy K có ký Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 2233455 ngày 09/9/2022 với hạn mức tín dụng là 70.000.000 đồng, sau đó ngân hàng đồng ý nâng hạn mức tín dụng của thẻ lên 400.000.000 đồng và đồng ý cho ông K tiếp tục ký thêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 3007967 ngày 06/11/2023 với hạn mức tín dụng là 400.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 2,48%/tháng tương đương 29,8%/năm. Quá trình sử dụng thẻ, do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với mức lãi suất bằng 150% lãi trong hạn, tức 3,72%/ tháng tương đương 44,7%/ năm kể từ ngày 25/7/2024 đối với hợp đồng số 3007967 và kể từ ngày 05/7/2024 đối với hợp đồng số 2233455.
Ngân hàng xác định số tiền nợ gốc của hợp đồng số 3007967 là 157.402.693 đồng và nợ gốc của hợp đồng số 2233455 là 295.770.344 đồng là không có căn cứ bởi lẽ: Đối với hợp đồng số 3007967, ông K ngừng phát sinh giao dịch từ ngày 25/01/2024 với tổng dư nợ là 142.275.099 đồng, còn đối với hợp đồng số 2233455 ông K ngừng phát sinh giao dịch từ ngày 05/02/2024 với tổng dư nợ là 260.444.195 đồng. Việc ngân hàng cộng lãi, phí vào dư nợ tại thời điểm ông K ngừng phát sinh giao dịch rồi tiếp tục tính lãi trên dư nợ mới theo từng kỳ tiếp theo là lãi chồng lãi, vi phạm khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Do đó, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông K trả số tiền gốc còn nợ là 402.719.294 đồng (trong đó hợp đồng số 3007967 là 142.275.099 đồng, hợp đồng số 2233455 là 260.444.195 đồng) và lãi phát sinh theo dư nợ gốc.
Từ những phân tích trên,
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Đề nghị HĐXX: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Duy K phải trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 06/02/2025 là 551.163.190 đồng (trong đó dư nợ gốc 402.719.294 đồng, nợ lãi: 148.443.896 đồng) và lãi phát sinh trên dư nợ gốc tính từ ngày 07/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp thẻ tín dụng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Trần Duy K thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn ông Trần Duy K có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K là phù hợp.
[3] Về nội dung vụ án:
Ngày 09/09/2022, Ông Trần Duy K có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hợp đồng số 2233455. Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback với hạn mức sử dụng là 70.000.000 đồng. Đến ngày 03/11/2023, Ông Trần Duy K có yêu cầu Ngân hàng nâng hạn mức thẻ tín dụng lên thành 400.000.000 đồng, đồng thời ký giấy đề nghị mở thêm thẻ tín dụng Visa Infinite sử dụng chung hạn mức 400.000.000 đồng, hợp đồng số 3007967 (lãi suất trong hạn là 2.48%/tháng tương đương 29.8%/năm) với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Trong quá trình sử dụng thẻ, Ông Trần Duy K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Theo yêu cầu của ngân hàng, tính đến ngày 06/02/2025, Ông Trần Duy K còn dư nợ thẻ tín dụng là 576.602.215 đồng, trong đó: Nợ gốc: 453.173.037 đồng, lãi quá hạn: 123.429.178 đồng.
Như vậy, có căn cứ xác định quan hệ vay tài sản giữa ông Trần Duy K với Ngân hàng TMCP S theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự.
Từ khi giao kết hợp đồng đến nay, ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận tại giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số: 2233455 ngày 09/9/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3007967 ngày 06/11/2023 theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Đối với hợp đồng số 2233455 ngày 09/9/2022, ngân hàng tính dư nợ gốc từ ngày 05/8/2024 số tiền 295.770.344 đồng; hợp đồng số 3007967 ngày 06/11/2023 ngân hàng tính dư nợ gốc từ ngày 25/07/2024 số tiền 157.402.693 đồng, ngân hàng căn cứ vào mục 1.10 bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP S. Mục 1.10 “Dư nợ: là số tiền mà chủ thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các Giao dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng Thẻ”. Theo đó ngân hàng tính lãi, phí vào dư nợ tại thời điểm ông K ngừng phát sinh giao dịch rồi tiếp tục tính lãi trên dư nợ mới theo từng kỳ tiếp theo là lãi chồng lãi. Đối chiếu với quy định tại khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Vì vậy, việc ngân hàng cộng lãi, phí vào dư nợ tại thời điểm ông K ngừng phát sinh giao dịch rồi tiếp tục tính lãi trên dư nợ mới theo từng kỳ tiếp theo là không đúng quy định của phát luật.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận một phần.
Đối với hợp đồng số 2233455 ngày 09/9/2022, ông K ngừng giao dịch ngày 05/02/2024 và số tiền dư nợ gốc là 260.444.195 đồng; Hợp đồng số 3007967 ngày 06/11/2023, ông K ngừng giao dịch ngày 25/01/2024 và số tiền dư nợ gốc là 142.275.099 đồng. Vì vậy, dư nợ gốc, lãi, phí trễ hạn của ông K được tính như sau:
- Đối với hợp đồng số 2233455 ngày 09/9/2022, dư nợ gốc 260.444.195 đồng:
Lãi trong hạn: Tính từ ngày 05/02/2024 đến ngày 05/7/2024 = 5 tháng = 153 ngày.
2.48%/30*260.444.195 đồng*153 ngày = 32.940.981 đồng.
Trừ tiền lãi đương sự đã đóng: 32.940.981 đồng – 8.602.000 đồng = 24.338.981 đồng.
Lãi quá hạn: Tính từ ngày 05/8/2024 đến ngày 06/02/2025 = 7 tháng lẻ 01 ngày = 215 ngày.
3.72%/30*260.444.195 đồng * 215 ngày = 69.434.422 đồng.
Tổng cộng lãi trong hạn, quá hạn, phí trễ hạn là:
24.338.981 đồng + 69.434.422 đồng + 5.671.693 đồng = 99.445.096 đồng.
Tổng nợ gốc+lãi+phí là: 260.444.195đ + 99.445.096 đồng = 359.889.291 đồng.
- Đối với Hợp đồng số 3007967 ngày 06/11/2023, dư nợ gốc 142.275.099 đồng.
Lãi trong hạn: Tính từ ngày 25/01/2024 đến ngày 25/6/2024 = 05 tháng = 152 ngày.
2.48%/30*142.275.099 đồng*152 ngày = 17.877.340 đồng.
Trừ tiền lãi đương sự đã đóng: 17.877.340 đồng – 8.716.000 đồng = 9.161.340 đồng.
Lãi quá hạn: Tính từ ngày 25/7/2024 đến ngày 06/02/2025 = 7 tháng lẻ 12 ngày = 215 ngày.
3.72%/30*142.275.099 đồng * 215 ngày = 37.930.541 đồng.
Tổng cộng lãi trong hạn, quá hạn, phí trễ hạn là:
9.161.340 đồng +37.930.541 đồng + 1.906.919đ = 48.998.800 đồng.
Tổng nợ gốc+lãi+phí là: 142.275.099 đồng + 48.998.800 đồng = 191.273.899 đồng.
Tổng cộng: nợ gốc, lãi, phí trễ hạn là của hai khoản vay là: 551.163.190 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí đối với yêu cầu bị bác.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 357, 463, 466, 468 Bộ Luật dân sự;
Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Buộc bị đơn ông Trần Duy K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, hợp đồng số 2233455 ngày 09/9/2022 và hợp đồng số 3007967 ngày 06/11/2023, tổng số tiền còn nợ là 551.163.190 đồng (Năm trăm năm mươi mốt triệu một trăm sáu mươi ba nghìn một trăm chín mươi đồng).Trong đó nợ gốc là 402.719.294 đồng (Bốn trăm lẻ hai triệu bảy trăm mười chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng); nợ lãi trong hạn là: 33.500.321 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng); Lãi quá hạn là: 107.364.963 (Một trăm lẻ bảy triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng), P trễ hạn là 7.578.612 (Bảy triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm mười hai đồng).
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi số tiền 25.439.025 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn không trăm hai mươi lăm đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Duy K phải chịu số tiền là 26.046.528 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Duy K còn có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 2233455 ngày 09/9/2022 và hợp đồng số 3007967 ngày 06/11/2023 kể từ ngày 07/02/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S phải chịu án phí đối với yêu cầu bị bác, số tiền là 1.271.951 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm năm mươi mốt đồng), khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ngân hàng đã nộp 11.226.254 đồng theo biên lai số 0001045 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, ngân hàng được nhận lại số tiền 9.954.303 đồng (Chín triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm lẻ ba đồng).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tiếp theo của ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, được niêm yết tại địa phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Phương A |
Bản án số 13/2025/DSST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sacombank - Khương
