Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Vinh

Bản án số: 13/2025/DSST

Ngày: 06/06/2025

"V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Hà – ông Trần Quốc Đấu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Tú – Kiểm sát viên

Trong các ngày 30 tháng 05 năm 2025 và ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 299/2023/TLST - DS ngày 15/12/2023 về "Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX-ST, ngày 18 tháng 02 năm 2025 và các Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1990

Địa chỉ: số nhà B, đường X, khối M, phường Đ, thành phố V, Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền: bà Lang Thị D, sinh năm 1964

Địa chỉ: K, phường T, thành phố V, Nghệ An

Bà P, bà D có mặt tại phiên tòa

Bị đơn: ông Phạm Văn B, năm 1955

Địa chỉ: nhà số B, đường N, khối T, phường H, thành phố V, Nghệ An

Ông B có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Đặng Thị N

Địa chỉ: nhà số B, đường N, khối T, phường H, thành phố V, Nghệ An.

Bà N có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án

+ Bà Trần Thị T

Địa chỉ: số nhà C, ngõ B, đường N, xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An

Bà T vắng mặt tại phiên tòa

+ Bà Phạm Thị L

Địa chỉ: số nhà B, ngõ B, đường N, xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An

Bà L vắng tại phiên tòa

+ Bà Đặng Thị Thu H

Địa chỉ: số nhà B đường N, xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An

Bà H vắng mặt tại phiên tòa

+ Ông Nguyễn Quốc Đ

Địa chỉ: số nhà B, ngõ B, đường N, xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An

Ông Đ vắng tại phiên tòa

+ Bà Lê Thị Kim N1

Địa chỉ: Lô I, biệt thự liền kề số 14, đường 72 m, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Bà N1 tại phiên tòa

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: LS Nguyễn Văn T1 – Công ty L4, V, Nghệ An

LS T1 có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn (người đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Bà Nguyễn Thị Lan P làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Phạm Văn B trả lại diện tích 6,8m² đất hiện ông B đang quản lý. Cụ thể phần yêu cầu trả lại là một hình gần giống hình tam giác, có một cạnh là 5,56m + 9,05m; một cạnh 0,75m; một cạnh 14,45m + 0,85m; có diện tích là 6,8m².

Lý do khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Lan P là chủ sử dụng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, diện tích 475,6m² tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nguồn gốc thửa đất:

Ngày 09/4/2011, bà Lan P nhận chuyển nhượng nguyên thửa đất của ông Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T (trú tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An), đó là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, đã được cấp GCNQSD đất số BB 355281 ngày 25/5/2010 mang tên Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T. Cùng ngày 09/4/2011, bà Lan P nhận chuyển nhượng diện tích 28,69m² đất của bà Phạm Thị L (chủ sử dụng thửa đất số 143, tờ bản đồ số 25, được cấp GCNQSD đất số AE 183753 ngày 10/4/2006 mang tên bà Nguyễn Thị L1) tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau đó, bà Nguyễn Thị Lan P hợp nhất hai thửa đất và làm thủ tục cấp GCNQSD đất, được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BE 590272 ngày 22/8/2011 mang tên Nguyễn Thị Lan P tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, diện tích 475,6m² (trong đó: Đất ở 150m²; Đất trồng cây lâu năm (vườn): 325,6m²).

Khi nhận chuyển nhượng thửa đất, trên thửa đất đã có hàng rào 4 phía bao quanh. Năm 2022, thì xảy ra tranh chấp giữa bà Đặng Thị N và bà Nguyễn Thị Lan P. Sau khi tiến hành đo đạc lại thì hiện trạng sử dụng thửa đất 28 của bà Nguyễn Thị Lan P so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có sự chồng lấn. Thửa đất số 28 của bà Nguyễn Thị Lan P có một phần diện tích tiếp giáp thửa đất số 33 do ông Phạm Văn B đang quản lý là 6,8m². Phần diện tích 6,8m² này nằm ngoài GCNQSD đất của ông Phạm Văn B và nằm trong GCNQSD đất của bà Lan P. Sau khi thương lượng và hòa giải tại địa phương không được, bà Nguyễn Thị Lan P làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Phạm Văn B trả lại diện tích 6,8m² đất hiện ông B đang quản lý.

Về thửa đất số 33, tờ bản đồ 30, diện tích 151,6m² thuộc xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An được cấp GCNQSD đất mang tên ông Phạm Văn B thấy rằng: Nguồn gốc thửa đất 33 là đất thổ cư của ông Nguyễn văn L2 và bà Nguyễn Thị T3 sử dụng trước năm 1980. Năm 2004, bà Lê Thị Kim N1 nhận chuyển nhượng lại và tách thành 02 thửa đất, trong đó có thửa đất số 33, diện tích 142,2m² được cấp GCNQSD đất ngày 19/01/2005 mang tên Lê Thị Kim N1. Năm 2007, Bà N1 chuyển nhượng lại cho ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N (ông H1 là bố vợ và bà Đặng Thị N là vợ ông Phạm Văn B). Năm 2022, ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N tặng thửa đất số 33 cho ông Phạm Văn B.

Quá trình làm việc tại Tòa án, ông Phạm Văn B không đồng ý trả lại diện tích 6,8m² đất cho bà Lan P và xuất trình giấy bán đất (viết tay) ngày 24/10/2004 với nội dung: Người chuyển nhượng là ông Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T; Người nhận chuyển nhượng là bà Lê Thị Kim N1; diện tích 0,9m và 0,1m x 18m = 9m² = 18.000.000đ. Tuy nhiên giấy bán đất mà ông B xuất trình không có chữ ký người nhận chuyển nhượng là bà N1, không có xác nhận của UBND xã, phường, diện tích đất nhận chuyển nhượng chưa đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Các chủ sử dụng đất trước như bà Lê Thị Kim N1 được cấp GCNQSD đất ngày 19/01/2005 (cấp sau thời điểm nhận chuyển nhượng theo giấy bán đất ngày 24/10/2004 do ông B xuất trình) cũng không có diện tích 6,8m² đất đang tranh chấp. Từ năm 2007 đến năm 2022, sau khi ông Đăng H2 và bà Đặng Thị N nhận chuyển nhượng thửa đất số 33 từ bà Lê Thị Kim N1 cũng đã nhiều lần cấp đổi GCNQSD đất cũng không có diện tích 6,8m² đất đang tranh chấp này. Bản thân ông Phạm Văn B mới được bố vợ là ông Đặng H1 và vợ là Đặng Thị N tặng cho thửa đất số 33 vào năm 2022. Khi cấp GCNQSD đất ngày 16/6/2022 mang tên ông Phạm Văn B cũng không có diện tích 6,8m² đất đang tranh chấp (diện tích và sơ đồ thửa đất không thay đổi, phía sau thửa đất vẫn giữ nguyên chiều rộng 3,86m).

Theo kết quả đo đạc thực tế hai thửa đất vào ngày 24/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, tỉnh Nghệ An đã xác định hiện trạng sử dụng đất thửa đất 33, tờ bản đồ 30 của ông Phạm Văn B đã được cấp GCNQSD đất có diện tích 151,6m². Theo hiện trạng sử dụng phần diện tích tăng lên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có diện tích 6,8m² (sử dụng sang của thửa 28). Kết quả đo thấy rõ phía sau thửa đất số 33 có chiều rộng tăng so với GCNQSD đất (3,86m + 0,75m của thửa đất số 28) = 4,61m.

Bà Nguyễn Thị Lan P đã nhận chuyển nhượng nguyên thửa đất số 28 của vợ chồng ông Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T. Thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thửa đất số 28 của ông T2, bà T đã được cấp GCNQSD đất bao gồm cả diện tích 6,8m² đất mà hiện nay đang tranh chấp (diện tích, sơ đồ kỷ thuật thửa đất năm 2001 phù hợp với GCNQSD đất được cấp). Sau khi nhận nhượng, bà Nguyễn Thị Lan P đã đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền và được cấp GCNQSD đất.

Do đó, tại phiên toà bà Nguyễn Thị Lan P vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn B trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan Phương diện T4 6,8m² đất thuộc thửa đất 28, tờ bản đồ số 30, được cấp GCNQSD đất mang tên bà Nguyễn Thị Lan P đang do ông Phạm Văn B (chủ thửa đất số 33) đang quản lý sử dụng.

Bị đơn ông Phạm Văn B trình bày: Ông Phạm Văn B có thửa đất 33, tờ bản đồ 30 thuộc xóm T, xã H, thành phố V, Nghệ An (đây là tài sản riêng của ông Phạm Văn B, giữa ông Phạm Văn B và bà Đặng Thị N đã chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân), liền kề với thửa đất của bà Nguyễn Thị Lan P thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30. Hiện nay bà Nguyễn Thị Lan P kiện ông Phạm Văn B lấn chiếm đất của bà nhưng thực tế là ông Phạm Văn B không có lấn chiếm mà là lý do của các chủ sử dụng đất trước của hai thửa đã mua bán và chuyển nhượng cho nhau chỉ thông qua xóm trưởng xác nhận, nên ông B mong Tòa án giải quyết đúng quy định.

Nay, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 6,8m² đất vì cho rằng bị đơn lấn chiếm phần đất này. Ông Phạm Văn B thấy yêu cầu này không có cơ sở. Ông Phạm Văn B đề nghị HĐXX bác nội dung khởi kiện này của nguyên đơn. Bởi vì: Ông Phạm Văn B khẳng định, trong quá trình sử dụng thửa đất số 33, bị đơn không lấn chiếm bất kỳ phần đất nào của nguyên đơn. Phần diện tích 6,8m² này là phần diện tích nằm trong 9m² đất mà ông T2, bà T, bà L1 và bà H đã chuyển nhượng cho bà Lê Thị Kim N1 vào ngày 24 tháng 10 năm 2004, với giá là 18.000.000 đồng. Bà N1 đã giao đủ số tiền này cho bên chuyển nhượng và đã xây bờ rào ngăn cách giữa hai thửa đất. Sau này, năm 2007, do cần tiền để nuôi con ăn học, bà N1 chuyển nhượng nguyên thửa, bao gồm cả phần đất này cho ông H1, bà N. Ông H1, bà N tiếp tục sử dụng thửa đất này, kể cả phần đất 9m² nói trên cho đến năm 2022 thì tặng nguyên thửa cho bị đơn, bao gồm phần đất đã nhận chuyến nhượng 9m² của ông T2, bà T. Bị đơn tiếp tục sử dụng thửa đất này, bao gồm cả phần đất đang tranh chấp với nguyên đơn. Như vậy, phần đất 6,8m² này là phần diện tích nằm trong 9m² đã nhận chuyển nhượng nói trên, không phải do bị đơn lấn chiếm của nguyên đơn như nguyên đơn trình bày, phần đất này bị đơn sử dụng hợp pháp, có nguồn gốc rõ ràng. Giữa bị đơn với bà N1, bà N không tranh chấp gì đối với phần đất 6,8m² này. Hàng rào ngăn cách giữa hai thửa đất không phải do bị đơn xây dựng mà nó có từ thời điểm bà N1 xây dựng đến nay. Lỗi xảy ra tranh chấp này là do lỗi của ông T2, bà T. Lẽ ra, khi chuyển nhượng cho bà Lan P vào năm 2011 đối với thửa đất số 28, ông T2 và bà T phải tách phân đất đã chuyển nhượng cho bà N1 nói trên. Năm 2004 đã chuyển nhượng cho bà N1 rồi thì năm 2011 không được chuyển nhượng phần đất này cho bà Lan P. Một phần đất, ông T2 và bà T không thể thực hiện hai giao dịch chuyển nhượng. Giao dịch chuyển nhượng giữa ông T2 và bà T với bà N1 đối với phần đất này có trước giao dịch giữa ông T2, bà T với bà Lan P. Giữa ông T2, bà T, cũng như bên mua là bà N1, ông H1, bà N cũng không xảy ra tranh chấp gì đối với phần đất này.

Do đó, phần đất này phải thuộc quyền sử dụng, định đoạt của bị đơn. Nguyên đơn không có quyền gì để yêu cầu bị đơn trả lại phần đất này. Ông Phạm Văn B nhận thấy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T2, bà T với bà L3 liên quan đến thửa đất số 28 trong đó có phần đất đã chuyển nhượng cho bà N1 vô hiệu một phần, phần liên quan đến phần đất đã chuyển nhượng cho bà N1. Lý do là vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Phần đất đã chuyển nhượng cho người khác, nhận đủ tiền của bà N1 và người ta đã xây dựng hàng rào ngăn cách giữa hai thửa đất. Sử dụng phần đất này ổn định, nhưng vẫn cố tính chuyên nhượng cho người khác. Mình không có quyền chuyển nhượng nhưng vẫn thực hiện. Từ hợp đồng này mà bìa đất cấp cho bà Lan P cũng trái quy định pháp luật. Vì đất của bị đơn nhưng cấp bìa cho nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N1 khẳng định việc chuyển nhượng nói trên. Hơn nữa, hàng rào ngăn cách giữa hai thửa đất có từ thời điểm năm 2004 đến nay. Phía ông Phạm Văn B cũng không tự ý xây dựng, dịch chuyển. Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn cũng khăng định là hàng rào bao quanh 4 phía của thửa đất số 28 vẫn giữ nguyên, không dịch chuyển. Nguyên đơn chỉ phát hiện phần đất có diện tích 6,8m² có trong bìa của nguyên đơn, nằm phía bên kia hàng rào do ông B quản lý khi đo đạc. Điều này thừa nhận rằng không phải bị đơn tự ý xây dựng lấn chiếm mà do nguyên đơn không biết một phần đất của thửa đất sô 28 đã được vợ chồng ông T2 chuyển nhượng vào năm 2004 cho bà N1. Từ những lập luận trên, ông Phạm Văn B đề nghị áp dụng điều 123, khoản 2, điều 129 Bộ luật dân sự, Nghị quyết 02/2004 và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bị đơn, đề nghị HĐXX bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết, thu thập chứng cứ và tại phiên Tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Các Điều 166, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 115, 163, 164, 166, 174, 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan P. Buộc bị đơn ông Phạm Văn B phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan P phần diện tích đất 6,8 m² thuộc thửa đất 28, tờ bản đồ 30 tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An theo Bản đồ đo đạc địa chính, được định vị như sau: Diện tích 6,8 m² được giới hạn bởi các điểm 9', 10', 11', 17,', 9'. (có sơ đồ kèm theo). Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Văn B phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Lan P chi phí tố tụng. Về án phí: Ông Phạm Văn B phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện và thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Nguyễn Thị Lan P khởi kiện ông Phạm Văn B phải trả lại quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ tranh chấp là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Phạm Văn B có hộ khẩu thường trú tại K, phường H, thành phố V, Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan P hiện đang sử dụng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Diện tích sử dụng đất đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 590272 ngày 22/8/2011 mang tên Nguyễn Thị Lan P tại thửa số 28, tờ bản đồ số 30, diện tích 475,6m² (trong đó: Đất ở 150m²; Đất trồng cây lâu năm (vườn): 325,6m²).

Ông Phạm Văn B hiện đang sử dụng thửa đất số 33, tờ bản đồ số tờ bản đồ số 30, tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Diện tích sử dụng đất đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DE 176378 ngày 16/6/2022 mang tên ông Phạm Văn B tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 30, diện tích 151,6m².

Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này phù hợp với sơ đồ địa chính hiện có. Các bên đương sự sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không ai có khiếu nại, khởi kiện về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như diện tích đất được cấp sử dụng. Như vậy, cả hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lan P và của ông B là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án thấy rằng:

Về nguồn gốc đất: Ngày 09/4/2011, bà Nguyễn Thị Lan P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, diện tích 446,9m² từ ông Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T (trú tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An), thửa đất trên đã được cấp GCNQSD đất số BB 355281 ngày 25/5/2010. Cùng ngày 09/4/2011, bà Nguyễn Thị Lan P nhận chuyển nhượng diện tích 28,69m² đất của bà Phạm Thị L (chủ sử dụng thửa đất số 143, tờ bản đồ số 25, diện tích 222,4m² được cấp GCNQSD đất số AE 183753 ngày 10/4/2006 mang tên bà Nguyễn Thị L1) tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Lan P làm thủ tục hợp nhất 02 thửa và được Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BE 590272 ngày 22/8/2011 mang tên Nguyễn Thị Lan P thửa đất số 28, tờ bản đồ số 30, diện tích 475,6m² (trong đó: Đất ở 150m²; Đất trồng cây lâu năm (vườn): 325,6m²).

Về thửa số 33 của ông Phạm Văn B:

- Đất thổ cư của ông Nguyễn Văn L2 và bà Nguyễn Thị T3 sử dụng trước 1980. Sau đó, Nguyễn Văn L2 và bà Nguyễn Thị T3 (nhập 02 thửa số 35 + 33) thành thửa số 33, TBĐ số 30, diện tích 376,2m² và được UBND thanh phố V cấp GCNQSD đất ngày 13/02/2004. Tại Biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất của ông L2, bà T3 ngày 06/01/2004 phần tiếp giáp thửa đất 28 được ông T2 ký giáp ranh.

Sau khi được cấp GCNQSD đất, ông L2, bà T3 chuyển nhượng lại cho bà Lê Thị Kim N1 và tách thành 02 thửa đất:

  • + Thửa số 41, TBĐ 30, diện tích 231m² và được cấp GCNQSD đất ngày 15/3/2004.
  • +Thửa số 33, TBĐ số 30, diện tích 142,2m² được cấp GCNQSD đất ngày 19/01/2005; sơ đồ thửa đất số 33 có phía trước giáp mặt đường Nguyễn Trường T5 rộng 4,56m; phía sau rộng 3,86m (không có diện tích 6,8m²);
  • + Năm 2007, bà Lê Thị Kim N1 chuyển nhượng cho ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N 02 thửa đất trên là thửa số 41, diện tích 231m² được cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2007 và thửa số 33, TBĐ 30 diện tích 142,2m² được cấp GCNQSD đất ngày 30/11/2007 mang tên ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N. Sơ đồ thửa đất không thay đổi (phía trước giáp mặt đường nguyễn Trường Tộ rộng 4,56m; phía sau rộng 3,86m).
  • + Ngày 16/3/2022, thửa số 33, TBĐ số 30, diện tích 142,2m² được cấp đổi mang tên ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N với diện tích 151,6m² (có thay đổi diện tích, cấp thêm 10,5m² nằm trong quy hoạch mở đường Nguyễn Trường T5; phía sau vẫn giữ nguyên chiều rộng 3,86m).

+ Ngày 16/6/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V thuộc Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp GCNQSD đất mã số DE 176378 mang tên ông Phạm Văn B diện tích 151,6m² (theo hợp đồng tặng cho ngày 09/5/2022), diện tích và sơ đồ thửa đất không thay đổi (phía trước giáp mặt đường nguyễn Trường Tộ rộng 4,56m; phía sau rộng 3,86m), không có diện tích 6,8m² đất nằm trong GCNQSD đất của bà Lan P).

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 13/3/2024 ông B xuất trình giấy bán đất (viết tay) ngày 24/10/2004 với nội dung: “...Người chuyển nhượng là ông Đặng Xuân T2 và bà Trần Thị T; Người nhận chuyển nhượng là bà Lê Thị Kim N1; diện tích 0,9m và 0,1m x 18m = 9m2 = 18.000.000₫ ...".

Tuy nhiên, xét thấy việc giao nộp chứng cứ sau khi đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và ông Phạm Văn B không có yêu cầu phản tố. Mặt khác, giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên được giao dịch từ năm 2004, khi đó bà Lê Thị Kim N1 đang là chủ sử dụng và sau đó lại tiếp tục chuyển nhượng cho ông Đặng H1 và bà Đặng Thị N năm 2007, chuyển nhượng cho ông Phạm Văn B năm 2022 nhưng đến nay chưa tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất và tiến hành hợp nhất vào thửa đất số 33, cũng như chưa có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền xác định hiệu lực của giấy chuyển nhượng đất trên. Vì vậy, không có căn cứ để xác định diện tích 6,8 m² đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn B.

Đối với bức tường ngăn cách giữa thửa đất số 28 và số 33 theo hiện trạng sử dụng thì: Bức tường trên được bà Lê Thị Kim N1 xây dựng năm 2004 (đã được bà N1 và ông B xác nhận) là ý chí chủ quan của bà Lê Thị Kim N1 không được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, bức tưởng ngăn cách giữa 02 thửa đất không được xem là ranh giới của thửa số 28 và thửa 33.

Ngoài ra, theo hợp đồng tặng cho ngày 09/5/2022 giữa ông Đặng H1, bà Đặng Thị N và ông Phạm Văn B, diện tích và sơ đồ thửa đất số 33 không thay đổi, không có diện tích 6,8m² đất nằm trong thửa đất số 28 của bà Nguyễn Thị Lan P.

- Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và tại Biên bản định giá tài sản lập ngày 24/5/2024 thấy rằng, ranh giới hiện trạng sử dụng đất thực tế giữa hai gia đình là sát liền kề nhau. Hội đồng chỉ tiến hành xem xét thẩm định và định giá những tài sản gắn liền với phần diện tích đất có tranh chấp.

Phần diện tích đất đang tranh chấp mà ông B hiện đang sử dụng không có tài sản gắn liền với đất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/5/2024. Thửa đất 28, tờ bản đồ số 30, tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An có trị giá theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 12.000.000 đồng/m². Thửa đất 33, tờ bản đồ số 30, tại xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An có trị giá theo giá thị trường tại thời điểm định giá là 25.000.000 đồng/m².

Căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế hai thửa đất vào ngày 24/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V, tỉnh Nghệ An đã xác định hiện trạng sử dụng đất của 2 gia đình, cụ thể như sau: - Thửa đất 28, tờ bản đồ 30 của bà Lan P đã được cấp GCNQSD đất có diện tích 475,6m². Theo hiện trạng sử dụng có diện tích 481,6m² (diện tích tăng do chồng lấn với các thửa đất liền kề khác, không liên quan đến thửa đất số 33); - Thửa đất 33, tờ bản đồ 30 của ông Phạm Văn B đã được cấp GCNQSD đất có diện tích 151,6m². Theo hiện trạng sử dụng phần diện tích tăng lên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có diện tích 6,8m² (sử dụng sang của thửa 28) được giới hạn bởi các điểm 9', 10', 11', 17,', 9'.

Ranh giới đất sử dụng của hai hộ liền kề là đã được xác định như trên. Vì vậy, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà Nguyễn Thị Lan P khởi kiện ông Phạm Văn B hiện đang sử dụng diện tích 6,8m² thửa đất số 28 của bà Nguyễn Thị Lan P là có cơ sở. Diện tích 6,8m² đất thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Lan P, được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất thể hiện diện tích 6,8m² đất đó không nằm trong diện tích thửa đất số 33 mà ông Phạm Văn B đã được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 170 Luật đất đai 2013 và Điều 175 Bộ luật dân sự thì ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác. Do vậy, ông Phạm Văn B đang sử dụng một phần diện tích đất là 6,8m² mà bà Nguyễn Thị Lan P được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Nguyễn Thị Lan P. Hiện nay, phần diện tích đất tranh chấp là đất trống nên cần buộc ông Phạm Văn B trả lại phần diện tích là 6,8m² cho bà Nguyễn Thị Lan P (được xác định theo các điểm 9', 10', 11', 17,', 9').

Riêng tường rào ngăn cách 2 thửa đất được bà Lê Thị Kim N1 xây dựng năm 2004 hiện do ông Phạm Văn B quản lý (trị giá 783.520 đồng). Do đó, ông Phạm Văn B phải tự tháo dỡ bờ tường rào để trả lại 6,8m² đất cho bà Lan P. Bà Lan P tự nguyện chịu mọi chi phí xây lại bờ rào sau khi ông B tháo dỡ tường rào trả lại diện tích 6,8m² đất.

[2] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị Lan P đã nộp toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Do đó, cần buộc ông Phạm Văn B phải chịu các chi phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản và phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Lan P số tiền 5.988.000 đồng (năm triệu, chín trăm tám mươi tám ngàn đồng chẵn).

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn B là người cao tuổi không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan P số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004133 ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Các Điều 166, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 115, 163, 164, 166, 174, 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan P.

Buộc bị đơn ông Phạm Văn B phải tự tháo dỡ tường rào trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan Phương diện T4 6,8 m² thuộc thửa đất 28, tờ bản đồ 30 tại Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An được cấp GCNQSD đất mang tên Nguyễn Thị Lan P. Theo Bản đồ đo đạc địa chính, được định vị như sau: Diện tích 6,8 m² được giới hạn bởi các điểm 9', 10', 11', 17,’, 9'. (có sơ đồ kèm theo).

[2] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản: Buộc ông Phạm Văn B phải thanh toán lại cho bà Nguyễn Thị Lan P số tiền 5.988.000 đồng (năm triệu, chín trăm tám mươi tám ngàn đồng chẵn) chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản (do bà Nguyễn Thị Lan P đã nộp toàn bộ).

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn B là người cao tuổi không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan P số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004133 ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

- VKS ND thành phố Vinh;

- VKS ND tỉnh Nghệ An;

- TAND tỉnh Nghệ An

- Chi cục THADS thành phố Vinh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ+VPTA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hữu Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DSST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 13/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án Phương Bồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger