Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 13/2025/DS- PT

Ngày 24/01/2025

V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thúy Hằng

Bà Quách Thị Phương Thúy

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 75/2024/TLPT- DS ngày 15/10/2024 về việc Tranh chấp kiện đòi tài sản, do bản án Dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS- ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ bị kháng cáo và kháng nghị; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2025/QĐXX- PT ngày 06/01/2025 và quyết định hoãn giữa:

- Nguyên đơn: Ông Tiêu Văn Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: Số E, đường C thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn A- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C; Địa chỉ: xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã C: Ông Hoàng Ngọc Thanh B và ông Đặng Văn S- Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số C, ngõ A, phố T, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND huyện T; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Văn S1- Phó Chủ tịch UBND huyện T; Địa chỉ: thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964; địa chỉ: Số A ngõ D, khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Ông Phạm Huy S2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; Ông Vũ Văn H, sinh năm 1955; Địa chỉ: K đường C, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; Ông Nguyễn Tiến M, sinh năm 1965; Địa chỉ: thôn G, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.

(Tại phiên tòa có mặt ông Đ; đại diện UBND xã C, UBND huyện T và các ông D, S2 và M; vắng mặt ông H)

* Bản án dân sự sơ thẩm có kháng cáo của: UBND xã C, UBND huyện T và Kháng nghị của Viện trưởng VKSND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/3/2006, ông Đ và UBND xã Đ (nay là xã C) ký kết hợp đồng kinh tế số 03/2006/HĐ-KT thầu đất bãi ven sông T, theo đó UBND xã Đ giao cho ông Đ đất bãi với diện tích 35 mẫu Bắc bộ (120.000m²), loại đất CD/K (đất chuyên dùng); mục đích sử dụng: San gạt cấy lúa; nuôi trồng thủy sản và sản xuất gạch bằng lò nung liên tục kiểu đứng công nghệ tiên tiến; thời hạn giao đất từ 20/3/2006 đến hết ngày 20/3/2016; ông Đ được phép khai thác đất để làm nguyên liệu đóng gạch. Ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho UBND xã Đ (Ủy ban nhân dân xã Đ) một lần với số tiền là 420.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, UBND xã Đ đã giao đất cho ông Đ nhưng hai bên chỉ giao nhận diện tích, không xác định hiện trạng đất bãi, ông Đ cũng đã trả tiền đầy đủ cho UBND xã Đ.

Tháng 12/2006, ông Đ xây dựng dự án lò gạch kiểu đứng, trước tiên ông Đ xây dựng thí điểm 01 cặp lò gạch. Do bãi thuê tại các khu vực 1 và 2 (như sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm) mặt bãi có nhiều thùng vũng, không bằng phẳng nên ông đã mua cát để san lấp làm chân đế lò và làm lò, bắt đầu vận hành sản xuất gạch từ tháng 3/2007. Khi nhà nước làm đường 5B cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, ông đã làm hồ sơ đề nghị được đầu tư xây dựng bãi chứa, kinh doanh vật liệu trên một phần đất bãi đã thuê. Ngày 03/8/2009, UBND huyện T (Ủy ban nhân dân huyện T), tỉnh Hải Dương đã có thông báo số 63/TB-UBND về việc "Chấp thuận dự án đầu tư xây dựng bãi chứa, kinh doanh vật liệu xây dựng tạm thời ở bãi ngoài đê sông T thuộc xã Đ, huyện T". Sau khi có chấp thuận đầu tư của UBND huyện T, tháng 9/2009, ông Đ mua 250.000m³ cát đen, đơn giá 33.000 đồng/m³, thành tiền 8.250.000.000đồng, một phần ông dùng để san lấp mặt bằng để làm bến bãi chứa vật liệu phục vụ làm đường 5B (khoảng 70.000m³), phần còn lại khoảng 180.000m³, ông đã dùng để san gạt làm bãi sản xuất gạch lò đứng theo công nghệ tiên tiến và bãi chứa nguyên liệu tại các khu vực 1 và 2. Sau khi xây dựng xong đường 5B thì ông còn khoảng 9.000m³ đất cát là vật liệu làm đường vẫn để tại bãi đất thuê của UBND xã Đ chưa chuyển đi.

Ngày 20/3/2016, ông Đ và UBND xã Đ, huyện T đã ký biên bản số 02/BB- TLHĐ về việc “Thanh lý hợp đồng khai thác đất bãi sông T”, theo đó UBND xã Đ đề nghị ông thực hiện việc san gạt, thu dọn tài sản trả lại mặt bằng trên diện tích đất bãi theo các điều khoản trong hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT ngày 20/3/2006.

Ngày 06/7/2018, đoàn công tác gồm lãnh đạo UBND huyện T, lãnh đạo UBND xã Đ và ông Đ đã lập biên bản kiểm đếm tài sản tại bãi sản xuất gạch của ông. Tại biên bản này, lãnh đạo UBND huyện T cũng giao cho UBND xã Đ cùng ông Đ xác định diện tích, khối lượng đất cát do ông san lấp. Ngày 25/10/2018, giữa ông và UBND xã Đ đã tiến hành đo đạc kiểm tra thực tế diện tích mà ông đã san lấp làm sân phơi gạch và nền lò. Hai bên đã xác định tổng diện tích mà ông đã san lấp là 45.402m², độ sâu lấy 2 điểm tại 2 đầu, trong đó điểm 1 có độ sâu 4,2m, điểm 2 có độ sâu 3,5m. Sau khi xác định được tài sản tại bãi thuê, ông Đ đã tiến hành chuyên chở nguyên vật liệu là tài sản của mình đi.

Ngày 21/01/2019, Chủ tịch UBND xã Đ ra Thông báo số 04/TB- UBND về việc cấm khai thác, chở đất cát trái phép trên bãi sông T xã Đ, trong đó có nội dung: "UBND xã nghiêm cấm các chủ thầu đất bến, bãi sông T, các chủ lò gạch tự ý tổ chức khai thác đất, cát trên bãi sông T (kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm) khi chưa được cấp có thẩm quyền huyện, tỉnh phê duyệt". Do thông báo trên ảnh hưởng đến quyền lợi của mình, ngày 01/3/2019 ông khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ hủy Thông báo số 04/TB- UBND. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2019/HC- ST ngày 28/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông, xử hủy phần nội dung "kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm". Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Chủ tịch UBND xã Đ đã kháng cáo bản án và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã kháng nghị. Tại bản án phúc thẩm số 03/2019/HC-PT ngày 30/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, sau đó chính quyền địa phương vẫn ngăn cản việc ông lấy đi số đất cát ông đã san lấp vào bãi thuê.

Do đó, ông Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc UBND xã Đ (Nay là xã C) phải trả cho ông khối lượng cát san lấp và đất còn lại tại bãi T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, tổng khối lượng là 164.824,8m³.

Người đại diện của bị đơn trình bày: Ông Tiêu Văn Đ và UBND xã Đ (nay là xã C), huyện T, tỉnh Hải Dương có ký Hợp đồng số 03/2006/HĐ- KT ngày 20/3/2006 diện tích giao cho ông Đ, mục đích sử dụng, số tiền ông Đ nộp, thời hạn của Hợp đồng đúng như ông Đ trình bày. Quá trình thực hiện Hợp đồng ông Đ có san lấp làm mặt bằng làm sân phơi gạch và chân lò gạch và bãi chứa kinh doanh nguyên vật liệu trên bãi đấu thầu. Ngày 20/3/2016 giữa ông Đ và UBND xã Đ đã ký biên bản số 02/BB- TLHĐ về việc "Thanh lý hợp đồng khai thác đất bãi sông T", nội dung của biên bản đề nghị ông Đ thực hiện việc san gạt, thu dọn tài sản trả lại mặt bằng trên diện tích đất bãi theo các điều khoản trong Hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT. Ngày 15/12/2018, Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Hải Dương có Văn bản số 891/UBND-VP về việc ngăn chặn, xử lý khai thác đất, cát trái phép trên địa bàn xã Đ, huyện T. Do đó, ngày 21/01/2019 Chủ tịch UBND xã Đ ra Thông báo số 04/TB-UBND về việc cấm khai thác, chở đất cát trái phép trên bãi sông T, xã Đ, trong đó có nội dung: "UBND xã nghiêm cấm các chủ thầu đất bến, bãi sông T, các chủ lò gạch tự ý tổ chức khai thác đất, cát trên bãi sông T (kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm) đối với ông Đ, khi chưa được cấp có thẩm quyền huyện, tỉnh phê duyệt, nhằm ổn định tình hình nhân dân không cho ông Đ lấy đất và cát mang đi. Ông Đ đã khởi kiện vụ án hành chính và Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của ông Đ hủy phần nội dung "kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm". Nay ông Đ có yêu cầu UBND xã để ông Đ mang toàn bộ khối lượng cát san lấp, đất làm nguyên liệu và cát còn dư trên bãi, quan điểm của địa phương nếu ông Đ chứng minh được cát san lấp, đất làm nguyên liệu còn dư trên bãi là tài sản của ông Đ thì ông Đ được quyền lấy đi và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện T: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không thể hiện quan điểm.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn D trình bày: Năm 2009 ông có kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng và được Phòng Tài chính của UBND huyện T cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong số ngành nghề được phép kinh doanh có vật liệu xây dựng là cát. Ngày 14/10/2009 ông và ông Đ có ký hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT về việc "Mua vật tư xây dựng", theo hợp đồng ông đã bán cho ông Đ 250.000m³ cát đen, đơn giá 33.000 đồng/m³, tổng thành tiền là 8.250.000.000 đồng để ông Đ dùng san lấp mặt bằng phơi gạch, bãi chứa đất và mặt bằng bến bãi. Để thực hiện hợp đồng trên ông đã mua cát của một số tàu bơm cát sau đó bơm cát từ tàu vào bãi của ông Đ tổng 05 đợt, cụ thể: Đợt 1 ngày 31/10/2009 bơm 51.121m³, đợt 2 ngày 15/11/2009 bơm 50.000m³, đợt 3 ngày 30/11/2009 bơm 50.000m³, đợt 4 ngày 15/12/2009 bơm 50.000m³ và đợt 5 ngày 30/12/2009 bơm 49.879m³. Khi đó, ông D mua cát của các tàu khai thác thì các tàu này trực tiếp bơm lên bãi theo các vị trí ông Đ chỉ, sau khi bán cát cho ông Đ thì ông phải nộp thuế cho Nhà nước tại chi cục thuế huyện T. Khi thực hiện việc bơm cát vào bãi cho ông Đ thì có ông Nguyễn Tiến M là người làm thuê cho ông Đ trực tiếp kiểm tra việc bơm cát, khối lượng cát. Đến ngày 31/12/2009 ông và ông Đ đã thanh lý hợp đồng trên, ông Đ đã thanh toán cho ông xong tiền mua cát.

- Ông Nguyễn Tiến M trình bày: Thời gian năm 2009, ông M là người làm thuê cho ông Đ, ông biết việc ông Đ mua cát của ông D để san lấp vào bãi thuê của UBND xã Đ (tại các khu vực 1 và 2 như sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm). Do bãi đất thuê không bằng phẳng, có nhiều thùng vũng khi ông D tiến hành bơm cát vào bãi thì ông được ông Đ giao nhiệm vụ nhận cát từ ông D. Khi ông nhận cát có phiếu giao cát và khối lượng cát, ông trực tiếp đo khối lượng cát theo số lượng tàu bơm cát sau đó tổng hợp số liệu và giao lại cho ông Đ. Các tàu cát do ông D mua bơm trực tiếp vào bãi, mỗi ngày bơm khoảng vài nghìn m³, trong đó nhiều ngày có thể bơm đến 10.000 m³; do nhiều lần nhận cát nên ông không nhớ được chính xác khối lượng là bao nhiêu, chỉ nhớ là khoảng hơn 200.000 m³.

- Ông Phạm Huy S2 trình bày: Hiện trạng đất bãi ông Đ nhận đấu thầu theo Hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT ngày 20/3/2006 với UBND xã Đ, trước đó các chủ lò đấu thầu bãi đã khai thác đất để làm gạch, bề mặt có nhiều thùng vũng không được bằng phẳng, khi bàn giao mặt bằng địa phương và ông Đ chỉ bàn giao diện tích chứ không đo cụ thể độ sâu các vị trí bãi ông Đ thuê, nên thực tế sau khi thuê bãi, ông Đ đã phải san lấp bãi để tạo mặt bằng xây lò gạch kiểu đứng. Khi thanh lý Hợp đồng số 03, ông Đ và đoàn công tác của UBND huyện T và UBND xã Đ đã tiến hành lập biên bản kiểm đếm các tài sản tại bãi ông Đ thuê (trong đó có phần đất gom làm nguyên liệu sản xuất gạch), tiến hành đo đạc diện tích, độ sâu phần diện tích bãi mà ông Đ đã san lấp cát làm sân phơi gạch và nền lò.

- Ông Vũ Văn H trình bày: Khoảng năm 2001, ông H có đấu thầu tất cả các bãi ven sông T với UBND xã Đ, trong đó có phần đất bãi mà doanh nghiệp T do ông Đ làm chủ đấu thầu lại, ông đấu thầu bãi để lấy đất làm nguyên vật liệu sản xuất gạch (thời hạn thầu 05 năm), trước khi ông nhận đấu thầu thì trước đó UBND xã Đ cũng đã cho một số chủ lò gạch khác đấu thầu để khai thác đất làm gạch, thời điểm đó doanh nghiệp của ông chỉ làm gạch thủ công, ông chỉ khai thác đất đến độ sâu 1,5m, khi bàn giao mặt bằng trả lại địa phương thì ông cũng dùng máy xúc san gạt mặt đáy cho bằng phẳng (mặt đáy là phần đất); tuy nhiên biên bản kiểm tra hiện trạng để bàn giao mặt bằng giữa ông và UBND xã hiện ông không còn lưu giữ được.

- Kết quả khảo sát địa chất của Công ty cổ phần T1 chất tại bãi ven sông T đang có tranh chấp giữa ông Đ và UBND xã C thể hiện: Điều kiện địa chất trong khu vực khảo sát tương đối phức tạp, địa tầng phân chia thành nhiều lớp đất khác nhau. Các lớp đất có diện phân bố và bề dày biến đổi mạnh đặc biệt giữa các hố khoan trong khu vực bãi và phía ngoài khu vực bãi gồm: Lớp 1. Cát san lấp: Cát mịn, màu xám nâu, xám đen, lẫn đất sét pha, hữu cơ; Lớp 2. Đất đắp bờ, đất ruộng, lẫn hữu cơ, tạp chất; Lớp 3. Bùn á sét, màu xám ghi, xám đen, kẹp cát mịn; Lớp 4. Cát bụi, màu xám đen. Đối với khu vực bên trong bãi có tranh chấp (khu vực 1 và 2) có lớp 1 là cát san lấp được hình thành qua quá trình san lấp của con người, khu vực bên ngoài bãi có tranh chấp không có lớp cát san lấp này.

Tại bản án sơ thẩm số 16/2024/DS- ST ngày 13/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đã xử:

- Xác định khối lượng cát san lấp và đất nguyên liệu của ông Tiêu Văn Đ trên diện tích 46.392m² tại bãi T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương còn lại là 164.824,8m³ ở 02 khu vực: Khu vực số 1 được giới hạn bởi các điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14 đến A1; khu vực số 2 được giới hạn bởi các điểm A15, A16, A17, A18, A19, A20 đến A15 (Có sơ đồ kèm theo).

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn Đ: Ông Đ được quyền di dời khối lượng đất, cát ra khỏi diện tích 46.392m² bãi T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Ông Đ và UBND xã C có trách nhiệm phối hợp di dời khối lượng đất cát trên theo đúng quy định của Luật đê điều và Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ. Trường hợp khối lượng đất, cát di dời theo quy định trên mà không đủ 164.824,8m³ thì UBND xã C, huyện T phải thanh toán giá trị khối lượng đất cát còn thiếu cho ông Đ bằng tiền. Theo Công bố số 06/SXD-STC ngày 10/7/2024 của Liên Sở xây dựng và Sở T2 về việc công bố giá vật liệu xây dựng tháng 6/2024 trên địa bàn tỉnh Hải Dương, giá cát đen đắp nền tại huyện T có giá 215.000đ/m³.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền đề nghị thi hành án, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Trong thời hạn luật định bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ kháng nghị không nhất trí bản án sơ thẩm đều với các nội dung: Cấp sơ thẩm chưa làm rõ đầy đủ các căn cứ chứng minh số lượng đất cát nguyên đơn xác định đã mua cát của ông D để san lấp vào bãi thuê của Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2009; Cấp sơ thẩm chưa làm rõ tài liệu chứng cứ có liên quan trong việc xác định tổng khối lượng đất cát ông Đ xác định đã dùng để san lấp vào bãi thuê của Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2009 vì tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án hiện còn có mâu thuẫn; Trường hợp xác định lượng đất cát trên bãi ông Đ thuê là tài sản hợp pháp của ông Đ đã san lấp vào bãi thì cần xem xét đến hậu quả của việc di dời lượng đất cát nêu trên (khi thi hành án) có ảnh hưởng đến môi trường, dòng chảy, an toàn bãi ven sông và hệ thống đê điều liên quan đến khu vực bãi ven sông khi ông Đ lấy đất cát đi; việc cấp sơ thẩm chưa trưng dụng một đơn vị tư vấn đủ năng lực đánh giá tác động đến hệ thống đê điều, dòng chảy của sông khi ông Đ được lấy đất cát đi khỏi bãi thuê là chưa đảm bảo, thiếu an toàn cho hệ thống đê điều liên quan; chưa có cơ quan chuyên môn tính toán xác định mực nước S3 mùa cạn để làm căn cứ giải quyết vụ án; cách tuyên án của Tòa án cấp sơ thẩm là không rõ ràng, chưa đúng quy định của pháp luật, gây khó khăn trong quá trình thi hành án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện bị đơn (các luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều trình bày quan điểm giữ nguyên các nội dung đã kháng cáo và trình bày quan điểm, lập luận làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX tuyên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục chung; Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương giữ nguyên nội dung kháng nghị.

Nguyên đơn nhất trí với bản án sơ thẩm, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định về quyền nghĩa vụ quy định về việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS- ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung. Về án phí: Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Kháng cáo và kháng nghị đều được làm trong thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên là kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Đối với việc ông Vũ Văn H là người làm chứng trong vụ án vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt giấy triệu tập cho ông H đến tham gia phiên tòa theo quy định. HĐXX thấy, nhiều phiên tòa tại các lần xét xử trước đây ông H cũng vắng mặt không có lý do và tại lời khai ngày 21/01/2021 (BL : 197) ông H đề nghị Tòa án không triệu tập ông đến phiên tòa vì ông làm doanh nghiệp rất bận; các nội dung ông H trình bày liên quan đến việc đánh giá xác định sự thật của vụ án, ông Đ đã có lời khai trình bày đầy đủ, rõ ràng được lưu trong hồ sơ vụ án; hơn nữa ngoài lời trình bày của ông H, trong vụ án này còn nhiều người làm chứng khác đều đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng về các nội dung liên quan đến việc làm rõ sự thật về vụ án nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt ông H theo thủ tục chung. Do vậy, không có căn cứ xem xét chấp nhận ý kiến của bị đơn và đại diện VKSND tỉnh Hải Dương đề nghị hoãn phiên tòa vì ông H vắng mặt.

[2] Đối với các nội dung kháng cáo, kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ như đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và qua việc làm rõ các nội dung kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm. HĐXX nhận thấy:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản (đất, cát san lấp tại bãi khu vực 1 và 2 theo sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm) của ông Đ; hiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn (UBND xã C) cho ông Đ lấy lại tài sản là 164.824,8m³ đất cát mà ông Đ đã mua của ông Nguyễn Văn D vào năm 2009 để san lấp vào diện tích bãi (tại khu vực 1 và 2 như bản án sơ thẩm xác định) với diện tích là 46.392m² (nằm trong tổng số diện tích 35 mẫu B, tương ứng = 120.000 m²) mà ông Đ thuê của UBND xã Đ khu vực bãi ven sông T vào năm 2006. HĐXX thấy:

[2.1.1] Ngày 20/3/2006, ông Tiêu Văn Đ và UBND xã Đ (nay là xã C) ký hợp đồng kinh tế số 03/2006/HĐ-KT thầu đất bãi ven sông, thuộc địa phận xã Đ; theo hợp đồng hai bên ký kết, UBND xã Đ đã giao cho ông Đ đất bãi ven sông T, với diện tích 35 mẫu Bắc bộ (120.000m²); mục đích sử dụng: San gạt cấy lúa; nuôi trồng thủy sản và sản xuất gạch bằng lò nung liên tục kiểu đứng công nghệ tiên tiến; thời hạn giao đất là 10 năm; ông Đ được phép khai thác đất làm gạch, ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho UBND xã Đ số tiền là 420.000.000đồng. HĐXX xác định hợp đồng nêu trên giữa hai bên là hợp pháp và hiện hai bên cùng xác định không có tranh chấp gì về hợp đồng này.

[2.1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm và biên bản làm việc ngày 06/01/2025 ông Đ xác định: Ngay sau khi ký hợp đồng kinh tế số: 03/2006/HĐKT (BL số: 01- 02) thuê đất của UBND xã Đ với diện tích 35 mẫu (tương đương 120.000m²) tại bãi ven sông T thì ông Đ có sử dụng diện tích bãi khu vực 01 (như bản án sơ thẩm xác định) để xây dựng làm lò gạch kiểu đứng theo quy hoạch đã được UBND tỉnh, huyện phê duyệt và dùng diện tích bãi khu vực 02 (như bản án sơ thẩm xác định) làm mặt bằng bãi chứa nguyên liệu cho việc làm đường 5B. Để làm mặt bằng xây lò gạch, sân phơi gạch, bãi chứa đất và mặt bằng bến bãi như trên, ông Đ đã mua 250.000m³ cát của ông D thông qua hợp đồng kinh tế số: 01/HĐKT (BL số: 51- 52) để san lấp mặt bằng bãi. Lý do của việc ông Đ phải mua cát về san lấp bãi đất thuê vì hiện trạng bãi khi đó là đất thùng vũng sâu, do các chủ thầu đất trước đó đã đào lấy đất để đóng gạch trước khi ông Đ nhận thầu bãi. Ông Đ xác định từ khi thuê đất của Ủy ban xã (năm 2006) đến khi thanh lý hợp đồng thuê đất với Ủy ban xã (năm 2016) ông Đ không khai thác đất tại các khu vực 1 và 2 của bãi thuê mà chỉ khai thác đất tại phần bãi thuê ở bãi ngoài khu vực 1 và 2 để lấy đất làm nguyên liệu sản xuất gạch công nghệ tiên tiến lò kiểu đứng từ năm 2009 đến năm 2016. HĐXX thấy trình bày này của ông Đ là có cơ sở chấp nhận vì phù hợp với lời khai của những người làm chứng là: Ông Phạm Huy S2 (nguyên là Chủ tịch UBND xã Đ thời gian năm 2006) có lời khai (BL số: 186, 560, 617) và tại phiên tòa phúc thẩm đều xác định hiện trạng đất bãi ông Đ nhận đấu thầu của UBND xã Đ năm 2006, trước đó các chủ lò gạch trước đã khai thác đất để làm gạch nên bề mặt bãi có nhiều thùng vũng không được bằng phẳng nên ông Đ đã phải tiến hành san lấp tạo mặt bằng bãi tại khu vực 1 và 2 để xây lò gạch kiểu đứng, làm bãi chứa nguyên liệu; lời khai của ông Nguyễn Tiến M là người làm thuê ông Đ thời gian năm 2009 (BL số: 526- 527) và lời trình bày tại phiên tòa phúc thẩm xác định có việc ông Đ mua cát của ông D để san lấp vào bãi thuê do bãi tại các khu vực 1 và 2 do có nhiều thùng vũng sâu (có chỗ sâu ngập hơn cả đầu ông M khi đứng xuống thùng), bề mặt bãi không bằng phẳng. Khi ông D tiến hành bơm cát vào bãi, ông M được ông Đ giao nhiệm vụ nhận cát từ ông D; lời khai của ông Nguyễn Văn D (bên bán cát) khi Tòa án sơ thẩm lấy lời khai (BL: 528- 529) và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều xác định xác định năm 2009 ông và ông Đ có ký Hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT về việc "Mua vật tư xây dựng", theo Hợp đồng ông đã bán cho ông Đ 250.000m³ cát đen, đơn giá 33.000 đồng/m³ tổng thành tiền là 8.250.000.000 đồng; ông Đ mua cát của ông để san lấp mặt bằng bãi thuê tại các khu vực 1 và 2.

[2.1.3] Các lời khai trên của các ông S2, M, D phù hợp với lời khai của ông Đ về việc ông Đ đã mua cát san lấp của ông D năm 2009 để san lấp vào khu vực bãi khu vực 1 và 2 để làm mặt bằng xây 02 cặp lò kiểu đứng sản xuất gạch theo công nghệ tiên tiến kiểu mới gồm khu vực nhà xưởng, sân phơi... và làm mặt bằng bến bãi để phục vụ việc bán nguyên liệu cho việc xây dựng đường quốc lộ 5B. Đồng thời phù hợp với việc đại diện bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án khi xét xử sơ thẩm vụ án lần 1 và trình bày tại phiên tòa phúc thẩm đều khẳng định khi ông Đ ký hợp đồng thầu khu vực bãi ven sông T hai bên chỉ bản giao về mặt bằng với diện tích là 35 mẫu Bắc bộ (tương đương = 120.000 m²), hai bên không có việc kiểm tra bàn giao xác định độ nông sâu cụ thể của từng khu vực bãi ông Đ thuê; điều này phù hợp với lời khai ban đầu của ông Vũ Văn H là người đã thuê phần bãi đất của Ủy ban xã trước khi ông Đ thuê lại xác định diện tích bãi ông Đ thuê năm 2006 của Ủy ban hiện trạng khi đó là thùng vũng không bằng phẳng (BL: 197); Đồng thời ngay tại hợp đồng thuê đất bãi hai bên lập năm 2006, không có điều khoản nào phản ánh về mặt bằng, độ nông sâu của diện đất bãi ông Đ thuê.

[2.1.4] Theo biên bản thanh lý hợp đồng thuê đất giữa hai bên vào năm 2016, biên bản kiểm đếm tài sản lập ngày 25/10/2018 giữa đại diện UBND huyện T, UBND xã cùng ông Đ đã lập và biên bản phụ lục kèm theo phản ánh nội dung hai bên đã tiến hành đo đạc kiểm tra thực tế diện tích bãi tại khu vực 1 và 2 mà ông đã san lấp là 45.402m², độ sâu lấy hai điểm tại hai đầu, điểm 1 có độ sâu là 4,2m, điểm 2 có độ sâu là 3,5 m, vật liệu san lấp chủ yếu là đất và cát thì thấy rằng chính đại diện của bị đơn thời điểm năm 2018 đã xác nhận lượng đất cát mà ông Đ đã san lấp vào bãi thuê tại các khu vực 1 và 2 là tài sản của ông Đ. Từ năm 2016 đến năm 2019 (trước khi ông Đ khởi kiện vụ án hành chính liên quan đến việc Ủy ban không cho ông Đ lấy phần đất cát mà ông Đ đã san lấp vào bãi thuê) thì hai bên không có bất kỳ tranh chấp gì về việc lượng đất cát nêu trên có phải là tài sản của ông Đ hay không và không có tranh chấp gì về việc san gạt để đảm bảo độ sâu đất bãi ông Đ thuê năm 2006; đến năm 2016 ông Đ và Ủy ban xã Đ đã thanh lý hợp đồng thuê đất và đến nay hai bên tiếp tục xác định không tranh chấp gì hợp đồng thuê đất bãi ven sông vào năm 2006.

[2.1.5] Theo kết quả xác minh tại khu vực thuế Tứ Lộc ngày 15/01/2025, thể hiện có việc ông D bán cát cho ông Đ năm 2009 và ông D đã kê khai nộp thuế đầy đủ theo quy định đối với số lượng 250.000m³ cát đã bán cho ông Đ năm 2009; ông Đ đã tiến hành thủ tục kê khai thuế và báo cáo tài chính năm 2009 về việc mua 250.000m³ cát của ông D theo đúng quy định về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với lời khai ông M là người nhận cát do ông D đã bán cho ông Đ để san lấp vào bãi đất thuê tại các khu vực 1 và 2 vào thời gian năm 2009. HĐXX thấy có căn cứ xác định việc mua bán cát giữa ông Đ và ông D năm 2009 là hợp pháp, do vậy toàn bộ số cát ông Đ đã san lấp vào bãi thuê tại các khu vực 1 và 2 là tài sản hợp pháp của ông Đ.

[2.1.6] Đối với nhận định cần làm rõ thêm tại Quyết định giám đốc thẩm số 02/2024/DS- GĐT ngày 20/01/2024 của TAND cấp cao tại Hà nội, Tòa án cấp sơ thẩm sau khi thụ lý lại vụ án đã tiến hành thủ tục khảo sát địa chất của bãi tại các khu vực 1 và 2 do T1 thực hiện (BL số: 550- 551 và 554), kết quả khảo sát địa chất cho thấy các hố khoan tại khu vực bãi tranh chấp (khu vực 01 và 2) có lớp 01 là: Cát san lấp (cát mịn, màu xám nâu, xám đen, lẫn đất sét pha hữu cơ), được hình thành qua quá trình hoạt động san lấp cát của con người. Các hố khoan ở bãi bên ngoài khu vực 1 và 2 thì không thấy sự xuất hiện của lớp cát san lấp này. Đồng thời từ chính kết quả khảo sát địa chất như trên thấy rằng việc bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày quan điểm cho rằng có việc ông Đ lấy cát san lấp từ bãi ngoài để san gạt lại vào bãi trong (khu vực 1 và khu vực 2) là không có căn cứ, vì theo kết quả khảo sát địa chất thì lớp 1 của bãi tại khu vực 1 và 2 là cát san lấp được hình thành qua hoạt động san lấp của con người chứ không phải đất cát do bồi đắp tự nhiên. Điều này cũng phù hợp với lời trình bày của ông Vũ Văn H ngày 08/09/2023 (BL số: 428) như sau: Trước khi thanh lý hợp đồng với UBND xã Đ, ông H có thực hiện việc san gạt cơ bản tại khu vực bãi chân đê (lấy một phần đất từ mô đất cao để san gạt vào khu vực ông đã khai thác đất để đóng gạch trước đó). Điều đó cho thấy rằng không có phần cát san lấp nào thuộc khu vực bãi chân đê (bãi ngoài) được ông H bàn giao cho UBND xã Đ khi kết thúc hợp đồng thuê đất giữa ông H và UBND xã Đ trước đó; khi ông H bàn giao bãi cho UBND xã Đ thì mặt bằng bãi là đất chứ không phải là cát san lấp.

[2.1.7] Từ các tình tiết, căn cứ đã phân tích và nhận định ở trên thì thấy có đủ cơ sở xác định việc nguyên đơn đã mua cát của ông D để san lấp vào bãi đất ven sông T tại các khu vực 1 và 2 vào năm 2009 như nội dung đơn khởi kiện và trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi san lấp cát, ông Đ đã lấy đi một phần cát để bán cho việc xây dựng đường 5B nên số lượng đất cát hiện còn lại trên bãi ông Đ thuê được xác định là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đ. Việc ông Đ khởi kiện buộc bị đơn phải trả lại số tài sản này cho ông là có căn cứ theo quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX thấy việc cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Đ được quyền lấy lại lượng đất cát hiện còn lại trên bãi thuê tại các khu vực 1 và 2 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về việc xác định khối lượng đất, cát nguyên đơn đã san lấp hiện còn tại bãi ở khu vực 1 và 2:

[2.2.1] HĐXX nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ kết quả thẩm định ngày 26/06/2020 (BL số: 69 - 71) để xác định tổng diện tích bãi san lấp tại bãi ở các khu vực 1 và 2 là 46.392m², mặc dù có sự tăng lên so với diện tích tại Biên bản kiểm kê tài sản các bên lập ngày 06/7/2018 và ngày 25/10/2018 (BL số: 04- 06) nhưng các bên đương sự đã thống nhất diện tích san lấp là 46.392m² và cùng xác định tổng khối lượng đất cát tại 02 khu vực này là 164.824,8m³.

[2.2.2] Khối lượng đất cát nêu trên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng theo trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, kết quả thẩm định khối lượng đất cát này thể hiện quan điểm thống nhất của cả hai bên đương sự khi tham gia vào việc xem xét thẩm định và phù hợp với biên bản kiểm đếm tài sản, biên bản bổ sung xác định tài sản của nguyên đơn do chính bị đơn và đại diện của các phòng ban của UBND huyện T xác lập vào năm 2018.

[2.2.3] Số liệu đất cát như nêu trên tại bãi ông Đ thuê của Ủy ban xã đã được các đương sự thống nhất tại cấp phúc thẩm khi xét xử vụ án lần thứ 1, cụ thể là sau khi chốt số lượng đất cát ông Đ đã lấy đi khỏi bãi thuê sau khi có bản án hành chính phúc thẩm của TAND tỉnh Hải Dương là 14.077m³ thì số lượng đất cát còn lại thực tế trên bãi khu vực 1 và 2 là 164.824,8m³, hai bên không có bất kỳ tranh chấp gì về tổng khối lượng đất cát này (BL: 280- 281).

[2.2.4] Do đó có căn cứ xác định số lượng đất cát do nguyên đơn mua của ông D vào năm 2009 để san lấp vào bãi tại khu vực 1 và 2, hiện đang còn ở trên bãi là 164.824,8m³.

[2.2.5] Đối với việc đại diện UBND huyện T, đại diện UBND xã C, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn có quan điểm cho rằng cần thiết tiến hành thủ tục xem xét thẩm định lại để xác định chính xác khối lượng đất cát mà nguyên đơn khai đã san lấp vào bãi tại các các khu vực 1 và 2 để làm căn cứ giải quyết vụ án; HĐXX thấy như đã phân tích và nhận định ở trên thì thấy không cần thiết phải tiến hành việc xem xét thẩm định lại để xác định tổng lượng đất, cát mà nguyên đơn đã mua để san lấp vào bãi tại các khu vực 1 và 2 và hiện còn lại trên bãi. Trong quá trình Tòa cấp phúc thẩm thụ lý vụ án không có đương sự nào có đơn yêu cầu thẩm định lại tài sản và nộp chi phí xem xét thẩm định lại khối lượng đất cát nêu trên; hơn nữa việc thẩm định khối lượng đất cát đã được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành theo đúng trình tự quy định, hiện không có đương sự nào đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc xác định khối lượng đất cát do ông Đ san lấp vào bãi thuê là vi phạm trình tự, thủ tục quy định và thực tế việc thẩm định khối lượng đất cát này đã được tiến hành từ nhiều năm qua nên giả định có việc tiến hành xem xét thẩm định lại dẫn tới việc có thể cho ra kết quả khối lượng đất cát khác (tăng hoặc giảm), như vậy sẽ là khó khăn cho việc HĐXX xem xét đánh giá, xác định khối lượng đất cát mà ông Đ đã san lấp vào bãi thuê. Do vậy, để có căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về nội dung này.

[2.3] Về việc nguyên đơn yêu cầu được di dời lượng đất, cát san lấp hiện còn lại tại bãi ở khu vực 1 và 2, HĐXX nhận thấy: Như đã phân tích và nhận định tại các mục [2.1] và [2.2], hiện có đủ căn cứ xác định tổng số đất cát nguyên đơn đã bỏ tiền ra mua của ông Nguyễn Văn D vào năm 2009 để san lấp vào bãi thuê của UBND xã Đ, sau khi ông Đ đã lấy một phần cát, số lượng đất cát hiện còn lại trên bãi khu vực 1 và 2 là 164.824,8m³. Do khối lượng đất cát này có căn cứ xác định là tài sản hợp pháp của ông Đ nên theo quy định của pháp luật yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản của ông Đ đối với số lượng đất cát này là có căn cứ. Ông Đ lấy lại tài sản do mình tạo lập trên bãi thuê của UBND xã Đ, không thuộc trường hợp ông Đ đi khai thác đất cát tại bãi thuê của UBND xã Đ. Tuy nhiên do lượng đất cát này đã được ông Đ san lấp vào bãi thuê từ năm 2009, đến nay đã ổn định về địa chất tại khu vực bãi ven sông nên thấy việc cấp sơ thẩm đã cân nhắc tuyên xử cho ông Đ được quyền lấy đi lượng đất cát phù hợp với các quy định của pháp luật liên quan, số lượng đất cát còn thiếu sẽ được bị đơn thanh toán trả cho nguyên đơn bằng tiền, và việc ông Đ được quyền lấy đi lượng đất cát đó là để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp về sở hữu tài sản của công dân được Hiến pháp và pháp luật dân sự bảo vệ, đồng thời cũng để đảm bảo quyền lợi chung của nhà nước và lợi ích chung của xã hội, đảm bảo ổn định dòng chảy của sông cạnh bãi, đảm bảo về việc phòng chống lũ lụt, bảo vệ hệ thống đê điều có liên quan. HĐXX nhận thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử cho ông Đ được quyền lấy đi lượng đất cát mà ông Đ đã san lấp vào bãi tại khu vực 1 và 2 nhưng phải đảm bảo quy định của Luật đê điều năm 2006 (tại Điều 23), Nghị định 23/2020/NĐ- CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ (Điều 14, Điều 15), Nghị định số 43/2015/NĐ- CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước (nay đã được thay thế bằng Nghị định 53/2024/NĐ- CP ngày 16/5/2024, tại các Điều 24, Điều 61) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, đã đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của đương sự và lợi ích của nhà nước và trật tự, an toàn chung của xã hội.

[2.4] Đối với kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ về nội dung cần trưng cầu một đơn vị tư vấn đánh giá tác động môi trường; chưa có cơ quan chuyên môn tính toán xác định mực nước S3 mùa cạn khi ông Đ di dời đất cát ra khỏi bãi thuê, HĐXX nhận thấy:

[2.4.1] Như lập luận và trình bày của ông Đ tại cấp sơ và phúc thẩm thì ông Đ có yêu cầu được quyền di dời khối lượng đất cát nêu trên khỏi bãi thuê là việc ông Đ lấy lại số tài sản hợp pháp của mình chứ không phải việc ông Đ tiến hành khai thác tài nguyên khoáng sản nên không phải có việc đánh giá tác động môi trường của đơn vị tư vấn có chuyên môn, điều này là phù hợp với các quy định của pháp luật về tài nguyên khoáng sản có liên quan. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm các bên đương sự đều không chủ động đưa ra yêu cầu cụ thể về việc trưng cầu một đơn vị tư vấn đánh giá tác động môi trường nào. Điều này chứng tỏ về mặt ý chí các đương sự đã từ bỏ quyền thu thập chứng cứ và chứng minh của mình theo quy định Điều 6 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.4.2] Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”. Đối chiếu theo quy định này, Tòa án không có nghĩa vụ phải xác định đơn vị tư vấn đánh giá tác động môi trường trong trường hợp này và tạm ứng chi phí cho thủ tục nêu trên theo yêu cầu kháng cáo của bị đơn, người liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ mà trách nhiệm này phải thuộc về các đương sự.

[2.4.3] Đồng thời như đã phân tích, nhận định tại mục [2.1] và thực tế việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận xử cho ông Đ được lấy đi lượng đất cát đã san lấp ở bãi thuê vào năm 2009, nhưng phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước, dòng chảy, hệ thống đê điều, bãi ven sông nên thấy trường hợp khi ông Đ yêu cầu thi hành án theo bản án, thực hiện quyền lấy đi tài sản là đất cát tại bãi thuê sẽ không ảnh hưởng gì tới môi trường, không làm ảnh hưởng gì đến dòng chảy và hệ thống đê điều liên quan.

[2.4.4] Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm trong quá trình xét xử vụ án lần thứ nhất khi xem xét giải quyết vụ án đã có việc cân nhắc đánh giá việc thực tế hiện trạng diện tích bãi tranh chấp giữa hai bên tại khu vực 1 và 2 cách chân đê 200 m, cách mép sông T 15 m, xung quanh khu vực bãi này có các ao nuôi rươi, cá của các hộ dân với độ sâu từ 2 đến 4 mét, các ao này được các hộ dân sử dụng nuôi trồng thủy sản ổn định nhiều năm qua không có tác động gì bất thường đến dòng chảy của sông và sự an toàn của hệ thống đê điều liên quan. Đồng thời đã xác minh làm rõ về mực nước S3 mùa cạn tại Hải Dương (tại trạm thủy văn P, phường N, TP .) để cân nhắc khi xử chấp nhận phần đất cát ông Đ được quyền lấy ra khỏi bãi trong thực tế (khi thi hành án) cho phù hợp. HĐXX thấy việc xem xét của Tòa án các cấp tại lần xét xử thứ nhất là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2.4.5] Với những căn cứ và nhận định ở trên, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận nội dung yêu cầu của người kháng cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ.

[2.5] Đối với việc người kháng cáo và kháng nghị về nội dung cách tuyên án của cấp sơ thẩm là chưa rõ ràng, không đúng quy định của pháp luật vì không xác định cụ thể việc nguyên đơn được lấy đi số cát tại bãi thuê độ sâu là bao nhiêu mét, việc di dời phối hợp với bị đơn như thế nào. HĐXX nhận thấy:

[2.5.1] Như đã phân tích và nhận định tại các mục [2.1] và [2.2] thì thấy việc cấp sơ thẩm tuyên xử để ông Đ được lấy đi lượng đất cát được xác định là tài sản hợp pháp của ông Đ đã san gạt vào bãi khu vực 1, 2 tổng = 164.824,8 m³ nhưng phải đảm bảo các quy định của Luật đê điều, Nghị định 23/2020/NĐ- CP..., số đất cát còn lại (không lấy được đủ khi thi hành án) ông Đ được thanh toán bằng tiền như cấp sơ thẩm là tuyên xử là có căn cứ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được quyền thi hành án, đồng thời đảm bảo quyền lợi của Nhà nước, đảm bảo an toàn về dòng chảy của sông và hệ thống đê điều liên quan đến diện tích bãi ông Đ thuê.

[2.5.2] Do số lượng đất cát nêu trên được xác định là tài sản hợp pháp của ông Đ thì ông Đ được quyền lấy đi khỏi bãi thuê là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật và có quyền đề nghị thi hành án. Đồng thời bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng phải chấp hành việc thi hành án dân sự theo luật, có nghĩa vụ chấp hành bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật như các công dân chứ không thể có trường hợp ngoại lệ nào khác.

[2.6.] Từ các nhận định đã được phân tích ở trên, HĐXX thấy: Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử vụ án lần thứ 2 và Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục cơ bản đầy đủ các nội dung thiếu sót như Quyết định giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại Hà Nội đã chỉ ra. Hiện người kháng cáo không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên HĐXX không chấp nhận các nội dung kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS- ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
  3. Về án phí: Ủy ban nhân dân xã C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm; Ủy ban nhân dân huyện T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng do UBND xã C nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 05/9/2024 và số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng do UBND huyện T nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 17/9/2024 (Các đương sự đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm).
  4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (24/01/2025).

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- TAND huyện Tứ Kỳ;

- Chi cục THA DS huyện Tứ Kỳ;

- Các đương sự;

- Lưu HS; lưu toà.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DS- PT ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 13/2025/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger