|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/DS-ST Ngày 29 tháng 5 năm 2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Quang Tụng.
- 2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1988; (Có mặt)
Địa chỉ: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Bà Lưu Thị H, sinh năm 1978; (Vắng mặt)
HKTT: Khu F, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ;
Chỗ ở hiện nay: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Đức T trình bày:
Bố anh T là ông Nguyễn Đức B được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 451, tờ bản đồ số 31; địa chỉ: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trong quá trình sử dụng đất ông B đã tách thửa đất số 451 thành 04 thửa đất, cụ thể như sau:
- - Thửa đất số 648, tờ bản đồ số 31 được bán cho bà Lưu Thị H với diện tích 312m² trong đó có 50m² đất ở, 262m² đất vườn.
- - Thửa đất số 649, tờ bản đồ số 31 được bán cho ông Phan Đình D với diện tích 312m² trong đó có 50m² đất ở, 262m² đất vườn.
- - Thửa đất số 647, tờ bản đồ số 31, diện tích 374m² trong đó có 100m² đất ở, 274m² đất vườn đã được ông B tặng cho anh.
- - Phần còn lại của thửa đất số 451 đã được làm thủ tục sang tên cho anh năm 2022. Hiện nay anh đã được cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất này.
Khi làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 648 cho bà Lưu Thị H, thửa đất đã được cắm mốc giới, có ranh giới rõ ràng. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng đất bà H đã san gạt phần đất phía sau làm mất toàn bộ các mốc giới ở phần đất phía sau. Anh và bà H đã nhiều lần cùng nhau đo đạc để cắm lại mốc giới nhưng không thống nhất được với nhau. Khi xảy ra tranh chấp bà H đã tự ý xây dựng các công trình trên đất là bờ rào và mái tôn. Ngày 07/8/2024 bà H đã thuê người đào bới, san gạt phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của anh.
Nay anh T đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Lưu Thị H phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 27,9m² theo chỉ giới 10, 9, 27, 24, 25, 10 theo sơ đồ hiện trạng ngày 20/3/2025, buộc bà H phải tháo rỡ công trình trên diện tích đất đã lấn chiếm và trả lại hiện trạng đất ban đầu.
Ý kiến của bị đơn, bà Lưu Thị H:
Quá trình giải quyết vụ án bà Lưu Thị H đến Tòa án làm việc nhưng bà H không viết bản tự khai, không cho Tòa án lấy lời khai, bà H có đến tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H không làm việc, Tòa án đã lập biên bản về việc bà H đến nhưng không làm việc. Tòa án đã thực hiện gửi và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng tại phiên tòa bà H vắng mặt nên không có quan điểm trình bày gì.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166, Điều 174, Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Lưu Thị H phải trả cho anh Nguyễn Đức T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Về án phí: Bà Lưu Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Lưu Thị H trả lại diện tích đất 27,9m² cho anh Nguyễn Đức T có các chỉ giới là 25, 10, 9, 27, 24, 25 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Bà Lưu Thị H phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất 27,9m² gồm: 01 đoạn tường xây gạch xi măng dài 8m, móng xây cao 1m, tường dày 110mm, cáo 1,2m. Trên tường là lưới B40 cao 1,2m; 01 phần mái tôn xốp sườn sắt 27,9m² + phần rèm che mưa 8m x 0,7m.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Đức T khởi kiện bà Lưu Thị H, sinh năm 1978; HKTT: Khu F, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Do đó xác định đây là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã đưa ông Trần Văn M vào tham gia tố tụng với tư là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sau khi xác minh và thu thập được tài liệu chứng cứ đã xác định được ông Trần Văn M và bà Lưu Thị H đã ly hôn, bà H và ông M đã làm thủ tục phân chia tài sản sau ly hôn và đã được UBND huyện P cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 808831 ngày 01/4/2015 thửa đất số 648, tờ bản đồ số 31, diện tích 312m² (đất ở 50m², đất trồng cây lâu năm 262m²) địa chỉ: G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ, mang tên bà Lưu Thị H. Vì vậy, khi xét xử Tòa án không đưa ông M vào tham gia tố tụng với tư là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
[2.1] Anh Nguyễn Đức T xác định: Nguồn gốc thửa đất số 647, tờ bản đồ số 31, diện tích 374m² trong đó có 100m² đất ở, 274m² đất vườn; địa chỉ: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/02/2010, mang tên Nguyễn Đức T là do bố đẻ anh là ông Nguyễn Đức B tặng cho anh. Cùng năm 2009 ông B còn chuyển nhượng cho bà Lưu Thị H diện tích 312m², trong đó 50m² đất ở, 262m² đất vườn. Bà H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lưu Thị H, thửa đất số 648, tờ bản đồ số 31, diện tích 312m² trong đó có 50m² đất ở, 262m² đất vườn. Ngoài ra, bố anh còn chuyển nhượng cho ông Phan Đình D, diện tích 312m² trong đó có 50m² đất ở, 262m² đất vườn. Nay là thửa đất số 649, tờ bản đồ số 31.
Quá trình sử dụng đất bà H đã san gạt phần đất phía sau làm mất toàn bộ các mốc giới phần đất phía sau. Anh và bà H đã nhiều lần cùng nhau đo đạc để cắm lại mốc giới nhưng không thống nhất được. Khi xảy ra tranh chấp bà H đã tự ý xây dựng các công trình trên đất là bờ tường và mái tôn. Nay anh T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Lưu Thị H phải tháo dỡ công trình trên diện tích đất đã lấn chiếm và trả lại diện tích đất lấn chiếm là 27,9m² theo sơ đồ hiện trạng có chỉ giới 10, 9, 27, 24, 25, 10.
[2.2] Bị đơn bà Lưu Thị H quá trình giải quyết vụ án bà Lưu Thị H đến Tòa án làm việc nhưng bà H không viết bản tự khai, không cho Tòa án lấy lời khai, bà H có đến tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H không làm việc, Tòa án đã lập biên bản về việc bà H đến nhưng không làm việc. Tòa án đã thực hiện gửi và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng tại phiên tòa bà H vắng mặt nên không có quan điểm trình bày gì.
[2.3] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/3/2025 thì thửa đất số 648, tờ bản đồ số 31, địa chỉ thửa đất: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ có diện tích 410,5m², (có các chỉ giới là 18, 19, 20, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 25, 26, 18); Thửa đất số 647, tờ bản đồ số 31, địa chỉ thửa đất: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ có diện tích 388,4m², (có các chỉ giới là 17, 18, 26, 25, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17)
* Trên diện tích đất tranh chấp có các tài sản gồm:
- - 01 đoạn tường xây gạch xi măng dài 8m, móng xây cao 1m, tường dày 110mm, cao 1,2m . Trên tường là lưới B40 cao 1,2m. Xây dựng năm 2023. Trị giá 3.962.000₫.
- - 01 phần mái tôn xốp sườn sắt 27,9m² + phần rèm che mưa 8m x 0,7m, làm năm 2024, trị giá 16.643.000₫.
- - Toàn bộ các tài sản trên do bà H xây dựng.
[2.4] Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc thửa đất của anh Nguyễn Đức T và bà Lưu Thị H đều được tách ra từ số 451, tờ bản đồ số 31, diện tích 1.800m2, địa chỉ: Khu G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi nhận chuyển nhượng bà H và anh T đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất của bà H có diện tích là 312m², chiều mặt đường từ C – D là 6,0m, cạnh giáp nhà anh T từ C – B là 30m, từ B – A là 22m, từ A – G là 6m, từ G – E là 22m, từ E đến D là 30m. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 597806 được UBND huyện P cấp ngày 10/02/2010 sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện từ C – D là 6,0m, canh giáp nhà anh T từ C – B là 30m, từ B – A là 22m, từ A – G là 6m, từ G – E là 22m, từ E đến D là 30m. Năm 2015 bà H đã làm biên thỏa thuận phân chia tài sản sau ly hôn và đã được cấp lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 808831 được UBND huyện P cấp ngày 01/4/2015, thửa đất số 648, tờ bản đồ số 31, diện tích 312m² (đất ở 50m², đất trồng cây lâu năm 262m²) địa chỉ: G, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ, mang tên bà Lưu Thị H. Theo sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chiều mặt đường từ 3 – 4 là 6,0m, từ 3 – 2 là 30m, từ 2 - 1 là 22m, từ 1 - 6 là 6m, từ 6 - 5 là 22m, từ 5 - 4 là 30m. Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì bà hiện trạng bà H sử dụng sang phần đất của anh T có diện tích là 27,9m², có các chỉ giới là 25, 10, 9, 27, 24, 25.
Từ những phân tích ở trên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Đức T, cần buộc bà Lưu Thị H trả lại cho anh Nguyễn Đức T phần đất diện tích là 27,9m², có các chỉ giới là 25, 10, 9, 27, 24, 25 theo sơ đồ hiện trạng ngày 20/3/2025. Buộc bà Lưu Thị H tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất 27,9m² gồm: 01 đoạn tường xây gạch xi măng dài 8m, móng xây cao 1m, tường dày 110mm, cao 1,2m. Trên tường là lưới B40 cao 1,2m; 01 phần mái tôn xốp sườn sắt 27,9m² + phần rèm che mưa 8m x 0,7m là phù hợp.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 10.000.000đ. Xác nhận anh T đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 10.000.000đ. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên anh Nguyễn Đức T không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, vì vậy cần buộc bà Lưu Thị H phải trả cho anh Nguyễn Đức T số tiền 10.000.000đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Đức T được chấp nhận toàn bộ nên bà Lưu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166, Điều 174, Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T.
- - Buộc bà Lưu Thị H trả lại diện tích đất 27,9m² cho anh Nguyễn Đức T có các chỉ giới là 25, 10, 9, 27, 24, 25 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
- - Bà Lưu Thị H phải tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất 27,9m² gồm: 01 đoạn tường xây gạch xi măng dài 8m, móng xây cao 1m, tường dày 110mm, cao 1,2m. Trên tường là lưới B40 cao 1,2m; 01 phần mái tôn xốp sườn sắt 27,9m² + phần rèm che mưa 8m x 0,7m.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Lưu Thị H phải trả cho anh Nguyễn Đức T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Về án phí: Bà Lưu Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi đương sự thường trú.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Đức T 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001340 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Việt Giang |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Tiến Hải khởi kiện bà Lưu Thị Hải về việc "Tranh chấp QSD đất
