TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/DS-ST
Ngày 26-6-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức- Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
-Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải; Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐHPT-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A).
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Ngọc T - Giám đốc A Chi nhánh huyện Q.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trọng D - Giám đốc Ngân hàng A
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985.
Chị Đỗ Thị V1, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa ông Nguyễn Trọng D - đại diện nguyên đơn trình bày: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Đỗ Thị V1 là vợ chồng. Ngày 16/12/2016 anh T1 đại diện hộ gia đình đã ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q vay số tiền 200.000.000 đồng về để chi phí sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình. Thời hạn của hạn mức là 36 tháng. Đến ngày 13/12/2019 đáo hạn khế ước nhận nợ mục đích sửa chữa nhà ở và chăn nuôi, thời hạn vay 36 tháng, lãi xuất cho vay 11%/năm, lãi xuất quá hạn 150% lãi xuất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi xuất chậm trả 10%/năm.
Tài sản bảo đảm khoản vay là quyền sử dụng thửa đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thửa đất số 239; tờ bản đồ số 13; diện tích 288,3m2; địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị N - mẹ đẻ anh T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng anh T1 và chị V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 23/12/2022 mặc dù ngân hàng A Chi nhánh huyện Q đã đôn đốc nhưng anh T1 và chị V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tính đến ngày 23/12/2022 anh T1 và chị V1 còn nợ tiền gốc 150.000.000 đồng, lãi trong hạn 52.781.934 đồng, lãi quá hạn 246.575 đồng, lãi chậm trả 63.362 đồng. Trong quá trình đôn đốc anh T1 chị V1 đã trả thêm được 10.000.000 đồng tiền nợ gốc và số tiền lãi. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2025 anh T1 và chị V1 còn nợ tiền gốc 140.000.000đồng, lãi trong hạn 94.760.701 đồng, lãi quá hạn 16.496.410 đồng, lãi chậm trả 925.239 đồng. Tổng là 252.182.350 đồng.
Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ hợp đồng. Đề nghị Tòa án tuyên trong bản án trong trường hợp bị đơn không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trừ vào nghĩa vụ trả nợ.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 và chị Đỗ Thị V1 và người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức T2: Trong quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T1, chị V1 và anh T2 lên Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng anh T1, chị V1 và anh T2 vắng mặt trong quá trình tố tụng. Vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh T1, chị V1 và anh T2, không tiến hành hòa giải được giữa các bên. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh T1, chị V1 và anh T2 đều vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa lần 1 và lần 2, như vậy bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 463, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh T1 và chị V1 phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q, trả số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng mà anh T1 đã ký kết với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền là 252.182.350 đồng. Gồm: nợ tiền gốc 140.000.000 đồng, lãi trong hạn 94.760.701 đồng, lãi quá hạn 16.496.410 đồng, lãi chậm trả 925.239 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 27/6/2025 cho đến ngày anh T1 và chị V1 thực tế thanh toán hết khoản nợ.
Trường hợp anh T1 và chị V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ, thì ngân hàng A Chi nhánh huyện Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, vì vậy trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Áp dụng pháp luật giải quyết: Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng A Chi nhánh huyện Q và anh Nguyễn Văn T1, chị Đỗ Thị V1 được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nên căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
[3] Về nội dung:
3.1. Về yêu cầu trả nợ gốc: Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp thể hiện vào ngày ngày 16/12/2016 anh Nguyễn Văn T1 đại diện hộ gia đình đã ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q vay số tiền 200.000.000 đồng về để chi phí sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình. Thời hạn vay của hạn mức là 36 tháng theo lãi xuất hai bên đã ký trong hợp đồng tín dụng số 3406LAV201605854. Đến ngày 13/12/2019 anh T1 và chị V1 đáo hạn khoản nợ trên thể hiện tại khế ước nhận nợ số 3406LDS201914582 ngày 13/12/2019, mục đích sửa chữa nhà ở và chăn nuôi, thời hạn vay 36 tháng, lãi xuất cho vay 11%/năm, lãi xuất quá hạn 150% lãi xuất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi xuất chậm trả 10%/năm.
Tài sản bảo đảm khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thửa đất số 239; tờ bản đồ số 13; diện tích 288,3m2; địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị N - mẹ đẻ anh T1 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 11-AĐ/HĐTC ngày 16/12/2016.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng tính đến thời điểm hạn trả nợ anh T1 và chị V1 mới trả được 50.00.000 đồng tiền nợ gốc, qua thời điểm hạn trả nợ anh T1 và chị V1 trả thêm được 10.000.000 đồng. Tổng đã trả được tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng A Chi nhánh huyện Q, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng anh T1 và chị V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, anh T1 và chị V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận ký kết trước đó với Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A Chi nhánh huyện Q B ra Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ yêu cầu anh T1 và chị V1 phải trả số tiền gốc còn nợ là 140.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.
3.2. Về yêu cầu trả nợ lãi, lãi quá hạn (lãi chậm trả): Theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết và theo thông báo chuyển nợ quá hạn, anh T1 và chị V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q. Vì vậy kể từ ngày 23/12/2022 khoản nợ còn lại của anh T1 chị V1 với ngân hàng A Chi nhánh huyện Q chuyển thành nợ quá hạn và phải chịu lãi xuất quá hạn kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay phía Ngân hàng yêu cầu anh T1 và chị V1 phải trả tiền lãi, lãi chậm trả của khoản nợ gốc còn nợ nêu trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm gồm: lãi trong hạn 94.760.701 đồng, lãi quá hạn 16.496.410 đồng, lãi chậm trả 925.239 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận. Anh T1 và chị V1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày 27/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật.
3.3.Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Để bảo đảm cho khoản vay hợp đồng tín dụng, anh T1, chị V1 và bà Nguyễn Thị N - mẹ đẻ anh T1 đã thế chấp quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 239; tờ bản đồ số 13; diện tích 288,3m2; địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị N. Tại nội dung hợp đồng thế chấp đều quy định rõ tài sản thế chấp bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng tín dụng. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất trên thể hiện các hộ liền kề không có tranh chấp về ranh giới với thửa đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất vẫn giữ nguyên hiện trạng. Chủ sử dụng đất là bà N đã chết vào ngày 22/11/2019 (có giấy khai tử), hàng thừa kế của bà N chỉ có anh T1 và anh Nguyễn Văn T3 (em trai anh T1), vì vậy Tòa án đã đưa anh Nguyễn Văn T3 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Xét thấy các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 11-AĐ/HĐTC ngày 16/12/2016 được ký kết đúng thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Ngân hàng A Chi nhánh huyện Q yêu cầu trường hợp anh T1 và chị V1 không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để trừ vào nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp. Anh T1 và chị V1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng A Chi nhánh huyện Q.
- Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Đỗ Thị V1 phải có nghĩa vụ trả cho ngân hàng A Chi nhánh huyện Q số tiền nợ gốc còn lại là: 140.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/6/2025 gồm: lãi trong hạn là 94.760.701 đồng, lãi quá hạn 16.496.410 đồng, lãi chậm trả 925.239 đồng. Tổng là 252.182.350 đồng “ hai trăm năm mươi hai triệu một trăm tám mươi hai ngàn ba trăm năm mươi đồng”
- Kể từ ngày 27/6/2025 anh T1 và chị V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Trường hợp anh T1 và chị V1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ số tiền nợ nêu trên, ngân hàng A Chi nhánh huyện Q có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 239; tờ bản đồ số 13; diện tích 288,3m2; địa chỉ thửa đất: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị N. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh T1 chị V1 tiếp tục phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
- Về án phí :
Anh T1 và chị V1 phải chịu 12.609.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại ngân hàng A Chi nhánh huyện Q số tiền 3.500.000 đồng đã nộp tạm ứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo biên lai thu số 0002407 ngày 06/3/2025.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. - Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng N1 (A). Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985. Chị Đỗ Thị V1, sinh năm 1988 Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
