Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUYÊN HẢI

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/DS-ST

Ngày: 26-3-2025

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hà Văn Quen - Cán bộ hưu trí;
  2. Bà Bùi Thị Thu Thủy - Phó Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thị xã Duyên Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21, 26 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-DS, ngày 08 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn:

  1. Chị Trần Thị Liễu H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
  2. Anh Phạm Thế V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phạm Tiên T, sinh năm 2005; (xin xét xử vắng mặt)
  2. Cháu Phạm Thành Đ, sinh năm 2013;
  3. Cùng địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

    (Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Thành Đ: Chị Trần Thị Liễu H và anh Phạm Thế V, là cha mẹ ruột)

  4. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962;
  5. Chị Nguyễn Thị Tố N, sinh năm 1984;
  6. Anh Nguyễn Thiên T1, sinh năm 1987;
  7. Cùng địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh C, chị Nguyễn Thị Tố N và anh Nguyễn Thiên T1: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo các đơn khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Minh C thể hiện: Ông có thửa đất số 919, tờ bản đồ số 9, diện tích 8660m², Mục đích sử dụng: Cây lâu năm, tọa lạc tại khóm A, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Nguyễn Minh C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất này do ông nhận chuyển nhượng từ ông Đường Công T2 vào năm 2001. Vào năm 2004, ông có khởi kiện ông Phạm Thành T3 và bà Trần Thị Đ1 là cha mẹ chồng của chị Trần Thị Liễu H ra Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải và Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. Kết quả giải quyết sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên công nhận cho ông diện tích đất 4.982m² nằm trong thửa 919 là thuộc quyền sử dụng của ông, nhưng vì lúc đó vợ chồng ông T3 hoàn cảnh khó khăn, không có nhà để ở nên Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều dành cho vợ chồng ông T3 một phần đất là 325,5m² để ở, còn lại 4.656,5m² còn lại thì buộc vợ chồng ông T3 phải trả lại cho ông. Diện tích 325,5m², vị trí đất nằm giáp sông L ban đầu chỉ là một cái chòi nhỏ để đóng đáy, sau đó ông T3 cất cái nhà lá để ở, từ từ sau này sông L bị lỡ vào gần hết đất nên vợ chồng chị H anh V là con ông T3 mới lấn chiếm phần đất ở vị trí khác trong thửa 919 và cất căn nhà cấp 4 hiện nay. Nay ông yêu cầu chị Trần Thị Liễu H và anh Phạm Thế V phải di dời nhà, công trình và cây cối trên đất để trả lại cho ông phần đất có diện tích 2.749,8m² thuộc thửa đất số 919, tờ bản đồ số 9, đất ở Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do hộ Nguyễn Minh C đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B: Diện tích đất tranh chấp trước đây đã được Tòa án 02 cấp xét xử rồi, kết quả là công nhận quyền sử dụng cho gia đình bà, buộc cha mẹ anh V là ông Phạm Thành T3 và bà Trần Thị Đ1 phải trả lại đất nhưng Tòa án có quyết định để lại cho cha mẹ anh V một nền nhà để ở, nhưng do sông L bị lở nên sau này anh V và chị H lại lấn chiếm ở vị trí khác để tiếp tục cất nhà. Tại phiên tòa bà B có ý kiến là đồng ý cho vợ chồng chị H anh V được tiếp tục ở trên phần đất mà anh chị đã cất nhà cùng với khoảng sân phía trước và phía sau, không yêu cầu phải trả giá trị đất, diện tích còn lại phía sau nhà, cái ao bên cạnh nhà và phần đất đo từ 02 gốc cây (cây bồ đề và cây sanh) trở vào 01 mét thì bà yêu cầu anh V, chị H phải trả lại.

- Bị đơn chị Trần Thị Liễu H có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C vì phần đất tranh chấp này gia đình bà đã sử dụng từ trước năm 1990 đến nay chứ không phải mượn của ông C. Nguồn gốc đất này trước đây là đất rừng, cha mẹ chồng bà bắt đầu đến đây khai hoang và canh tác từ năm 1986, có làm đơn xin cấp giấy chứng nhận nhưng không được cấp vì nhà nước nói là đây là đất rừng phòng hộ. Nhưng không biết sao ông Nguyễn Minh C lại được cấp bằng khoán đối với diện tích đất do ông T3, bà Đ1 canh tác, sau khi ông C được cấp bằng khoán thì đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải để yêu cầu cha mẹ chồngbà trả lại đất. Phần đất trước đây Tòa án hai cấp đã giải quyết mà ông T3, bà Đ1 thua kiện là 4.982m² nằm trong thửa 919, vị trí đất chính là phần đất hiện nay vợ chồng bà sử dụng bao gồm phần đất có căn nhà đang ở và cái ao bên cạnh, ngoài ra còn có phần đất có căn nhà cũ của ông T3, bà Đ1 hiện nay đã lỡ xuống sông L. Trước đây khi hòa giải ở U, chị Nguyễn Thị Tố N là con gái của ông C có đưa ra ý kiến là đồng ý cho vợ chồng bà tiếp tục ở trên phần đất nền nhà và hỗ trợ 30 triệu đồng là tiền công sức tu bổ phần cái ao bên cạnh. Nay nếu như nguyên đơn đồng ý cho vợ chồng bà phần đất diện tích 402,4 m² như sơ đồ khu đất mà bà đã chỉ ranh thì vợ chồng bà sẽ trả lại cho nguyên đơn cái ao diện tích 2.347,4m². Còn nếu như phía nguyên đơn không đồng ý thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật”.

- Bị đơn anh Phạm Thế V có cùng ý kiến với chị Trần Thị Liễu H.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng ghi nhận sự tự nguyện của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa là thống nhất cho bị đơn phần đất có diện tích là 235,5m² để tiếp tục ở, còn lại diện tích đất 2.514,3m² vợ chồng anh V, chị H phải trả lại cho hộ ông Nguyễn Minh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh C: Diện tích đất tranh chấp hiện nay giữa ông C với vợ chồng chị H, anh V là 2.749,8m² thuộc thửa đất số 919, diện tích chung là 8.660m², tờ bản đồ số 9, đất ở Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Minh C vào ngày 01/8/1995.

[2] Trên thực tế diện tích đất tranh chấp 2.749,8m² này nằm trong diện tích đất 4.982m² thuộc thửa đất 919, tổng diện tích chung là 8.660m², tờ bản đồ số 9, ở Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh đã được Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải và Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, trong vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Minh C với ông Phạm Thành T3 và bà Trần Thị Đ1 là cha mẹ anh V, chị H. Kết quả xét xử là công nhận diện tích đất 4.982m² nói trên là thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Minh C. Tuy nhiên, cả 02 bản án đều dành cho ông Phạm Thành T3 và bà Trần Thị Đ1 diện tích 325,5m² để ở. Quá trình sử dụng thì nhà và đất lở xuống sông L nên sau này anh V và chị H đã di dời và cất một căn nhà cấp 4 ở vị trí khác, cũng nằm trong thửa đất 919 và vẫn tiếp tục sử dụng cái ao kế bên căn nhà mà không trả lại cho ông C. Vấn đề này cũng được phía bị đơn là chị H và anh V thừa nhận. Theo điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì được xem là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông C là có căn cứ chấp nhận.

[3] Tuy nhiên, xét thấy hiện nay vợ chồng chị H không có nơi ở nào khác ngoài căn nhà trên đất tranh chấp, chị H cũng đồng ý trả lại cái ao bên cạnh nhưng đề nghị phía nguyên đơn cho diện tích đất 402,4 m² như sơ đồ khu đất mà chị đã chỉ ranh khi Tòa án thẩm định, với diện tích này thì bà B không đồng ý. Tại phiên tòa sau khi được Hội đồng xét xử giải thích, động viên thì bà B đã nhất trí cho gia đình bị đơn phần đất đã cất nhà, cộng với phần sân trước và phần đất phía sau để cho phần hậu đất rộng, thoáng, có sân trước và sau đủ để gia đình sinh hoạt. Mặc dù chị H không đồng ý với ý kiến của bà B, nhưng như đã nhận định ở phần trên thì tổng diện tích đất tranh chấp 2.749,8m² là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Hộ ông Nguyễn Minh C, được giải quyết bằng 02 bản án có hiệu lực pháp luật, nên việc chị H cho rằng đất là của cha mẹ chồng chị là không có cơ sở. Tòa án đã phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trích lục bản đồ địa chính đối với phần đất mà bà B đồng ý cho bị đơn có diện tích thực tế là 235,5m²

[4] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh C, buộc chị H và anh V phải trả lại cho hộ ông Nguyễn Minh C phần đất có diện tích là 2.514,3m², ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn cho bị đơn cho sử dụng phần diện tích đất 235,5m², không phải đền bù giá trị đất và bị đơn được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H và anh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.

[6] Về chi phí tố tụng trong vụ án này là 3.845.000 đồng, bị đơn chị H và anh V phải chịu và phải trả lại cho ông C. Do ông C đã nộp tạm ứng trước chi phí tố tụng là 4.000.000 đồng nên ông C được nhận lại số tiền còn thừa là 155.000 đồng sau khi xét xử sơ thẩm.

[7] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 26 của Luật Đất đai năm 2024;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C.
    1. Buộc anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H phải trả lại cho hộ ông Nguyễn Minh C phần đất có diện tích 2.514,3m² thuộc thửa đất số 919, tờ bản đồ số 9, đất ở Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, là các phần đất có ký hiệu B, A2 và A3 trên Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 95/CNTXDH ngày 25/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D. Anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H phải di dời tất cả cây cối trên phần đất có ký hiệu A3, diện tích 9,3m² để trả lại đất cho hộ ông Nguyễn Minh C.
    2. Anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 235,5m² thuộc thửa đất số 919, tờ bản đồ số 9, đất ở Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, là phần đất có ký hiệu A1 trên Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 95/CNTXDH ngày 25/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D; đồng thời anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ông Nguyễn Minh C có trách nhiệm giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng của thửa đất số 919 khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V và chị H.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Thế V và chị Trần Thị Liễu H phải trả lại cho ông Nguyễn Minh C số tiền 3.845.000 đồng.
  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Quen

Nguyễn Hữu Tài

Bùi Thị Thu Thủy

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Trà Vinh;
  • VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • Viện KSND Tx. Duyên Hải;
  • Chi cục THADS Tx. Duyên Hải;
  • Các đương sự;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 13/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger