TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/DS-ST Ngày: 11 - 3 – 2025 | |
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 168/2024/TLST- DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QÐST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; Trụ sở: Lầu 8, 266 – B N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Đình V Chuyên viên quản lý nợ - Chi nhánh Đ (Theo văn bản ủy quyền số 558/2024/GQU-CNSH ngày 30/12/2024). Có mặt.
* Bị đơn: Ông Ngô Đức C, sinh năm 1973; Trú tại: C M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 5 năm 2024, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 29/9/2022, ông Ngô Đức C ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của ông C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 120.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất từ khi cấp hạn mức là 2,4%/tháng, từ ngày 01/11/2022 lãi suất là 2,48%/tháng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 06/3/2024 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ qua nợ quá hạn. Tính đến ngày 25/5/2024 số tiền nợ của ông C tổng cộng là 147.516.773đ.
Đến ngày xét xử ngày 11/3/2024 khoản nợ của ông Ngô Đức C tổng cộng là 195.978.458đ. Trong đó, nợ gốc là 120.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 14.193.973đ, nợ lãi quá hạn là 61.784.485đ.
Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 19 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nên đề nghị Tòa án buộc ông C phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ nói trên. Đồng thời tiếp tục tính lãi dựa trên hợp đồng kể từ ngày 12/03/2025 cho đến khi ông C thanh toán xong khoản nợ.
* Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ văn bản tố tụng cho ông Ngô Đức C nhưng ông C không có ý kiến phản hồi về vụ án, tại phiên tòa ông C vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng về thẩm quyền, thực hiện việc cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự, đảm bảo để các bên đương sự được thực hiện các quyền của mình. Bị đơn Ngô Đức C đã được thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến phản hồi. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định.
Về nội dung: Giao dịch hợp đồng xác lập giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Ngô Đức C là đảm bảo về mặt chủ thể, thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên ràng buộc các bên tham gia ký kết. Ông Ngô Đức C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463; 466 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Đức C phải thanh toán số tiền tính đến ngày 11/3/2025 là 195.978.458đ. Trong đó, nợ gốc là 120.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 14.193.973đ, nợ lãi quá hạn là 61.784.485đ.
Về lãi suất đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị đơn, tuyên lãi tiếp tục tính theo hợp đồng kể từ ngày 12/3/2025 cho đến khi ông C thanh toán xong khoản nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ việc cấp hạn mức tín dụng thông qua hình thức thẻ tín dụng Ngân hàng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Ngô Đức C, giao dịch dưới dạng Hợp đồng. Căn cứ địa chỉ của ông Ngô Đức C tại C M 14, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền.
[1.2] Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi, không tham gia các phiên họp, hòa giải theo thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ chứng cứ vụ án thể hiện vào ngày 29/9/2022 trên cơ sở Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cấp cho ông Ngô Đức C thẻ tín dụng với hạn mức 120.000.000đ. Tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng thể hiện “Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, tôi/chúng tôi xác nhận rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1. Điều khoản và điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa tôi/chúng tôi và S1. Tôi/chúng tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đến việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà tôi/chúng tôi đã được cấp”. Tại mục 23 của Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng (Hiệu lực từ ngày 01/6/2021) của Ngân hàng quy định về cách tính lãi như sau: “Đối với giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến...: Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho S1 đối với tất cả các giao dịch trong TBGD hiện tại và bất kỳ giao dịch nào phát sinh sau đó cho đến khi toàn bộ dư nợ trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước ngày đến hạn.... Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ;... Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt: Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày chủ thẻ thanh toán lại toàn bộ số tiền đã rút; S1 có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo cho chủ thẻ.”
[2.2] Căn cứ vào quy định của Ngân hàng về ban hành mức lãi suất, thu phí rút tiền mặt, phí dịch vụ thẻ. Trên cơ sở số tiền thực tế giao dịch, thời gian chậm thanh toán của ông Ngô Đức C, Ngân hàng đã chứng minh được quá trình sử dụng thẻ, tính đến ngày xét xử 11/3/2025, ông C còn nợ số tiền tổng cộng là 195.978.458đ. Trong đó, nợ gốc là 120.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 14.193.973đ, nợ lãi quá hạn là 61.784.485đ và vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo cam kết. Do đó Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên buộc ông C phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ trên là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu về lãi suất, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tính lãi suất dựa trên hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 12/3/2025 là phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí, do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp trong vụ án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; ; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 3; Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Ngô Đức C.
Xử:
- Buộc ông Ngô Đức C phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tổng cộng là 195.978.458đ (Một trăm chín mươi lăm triệu chín trăm bảy mươi tám ngàn bốn trăm năm mươi tám đồng). Trong đó, nợ gốc là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu), nợ lãi trong hạn là 14.193.973đ (Mười bốn triệu một trăm chín mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi ba đồng), nợ lãi quá hạn là 61.784.485đ (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm tám mươi bốn ngàn bốn trăm tám mươi lăm đồng).
Lãi suất tiếp tục tính kể từ ngày 12/3/2025 dựa trên Hợp đồng giao kết giữa các bên (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng được ký kết giữa ông Ngô Đức C với Ngân hàng TMCP S dẫn chiếu theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) cho đến khi ông Ngô Đức C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ phát sinh.
- Về án phí: Ông Ngô Đức C phải chịu 9.798.922đ (Chín triệu bảy trăm chín mươi tám ngàn chín trăm hai mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.688.000đ (Ba triệu sáu trăm tám mươi tám ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003461 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tín dụng giữa Ngân hàng S và ông Ngô Đức C
