Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Số: 13/2025/DS-ST

Ngày: 16/6/2025

“Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Trung

Bà Phạm Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST- DS ngày 15/10/2024 về "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- DS ngày 15/4/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1). Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức danh: Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP V (V1).
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Mạnh T, sinh năm 1995 – Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Ngân hàng TMCP V (V1). Có mặt.
  • Địa chỉ: Tầng D Ngân hàng TMCP V (V1) – Chi nhánh H tại số F, đường C, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình.
  • - Kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Tòa án của V1: Công ty cổ phần M.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T1 – Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Xuân T2, chức vụ: Chuyên viên cao cấp xử lý nợ. Có mặt.
  • - Bị đơn: + Ông Nguyễn Tương L, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Phố B, xã M, Thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
  • + Bà Phạm Thị Vân A, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số C + 39 ngách A T, phường T, Q.Đ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Bà Bùi Thị Thanh T3
  • + Ông Bùi Khánh T4.
  • Cùng cư trú: Xóm Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (Gọi tắt là V1), Công ty cổ phần M (Gọi tắt là J) trình bày: Ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A vay vốn của V1, theo 02 Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2211257565388 ngày 21/12/2022. Số tiền vay: 2.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng chẵn./.). Thời hạn vay: 300 tháng (Bằng chữ: Ba trăm tháng), tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất số 14 Tờ bản đồ số 09, địa chỉ Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Lãi suất trong hạn: 13,2 %/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 27/12/2023, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2024. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có TSBĐ dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được Bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3 %/năm. Lãi xuất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.
  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2311070801358 (LD2332001386) ngày 17/11/2023. Số tiền vay: 778.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm bảy mươi tám triệu đồng chẵn./.). Thời hạn vay: 120 tháng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi tháng), tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm trang thiết bị gia đình. Lãi suất trong hạn: 12 %/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 17/11/2024, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2025. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức: Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có TSBĐ dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 120 tháng được Bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 2.5 %/năm. Lãi xuất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên gồm:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BS 259492, số vào sổ cấp GCN: CH00001 do UBND huyện K cấp ngày 20/01/2015; Ngày 26/05/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tương L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 2275, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 20/12/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Hòa Bình.

- Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay chuyển thành nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ (nếu có).

- Ngày 27/12/2024, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M (sau đây gọi tắt là “Công ty M”) đồng ý mua một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay nêu trên ký giữa V1 với Ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A theo Hợp đồng mua bán nợ số 17/2024/VPB-JUPITER ngày 27 tháng 12 năm 2024 và các phụ lục kèm theo.

- Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của V1 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, V1 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công ty M.

Tính đến ngày 14/02/2025, ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A còn nợ Công ty M và V1 tổng số tiền, cụ thể như sau:

Công ty JupiterVPBankCông ty Jupiter và VPBank
Nợ gốc2.864.304.385 đồng318.256.043 đồng3.182.560.428 đồng
Nợ lãi225.374.539 đồng35.933.849 đồng261.308.388 đồng
Tổng cộng3.089.678.924 đồng354.189.892 đồng3.443.868.816 đồng

1. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết các nội dung sau:

  • - Buộc ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải liên đới trả cho V1 và công ty M tổng số tiền tính đến ngày 14/02/2025 là: 3.443.868.816 đồng (bao gồm: Nợ gốc là: 3.182.560.428 đồng; Nợ lãi là: 261.308.388 đồng). Trong đó: Số tiền nợ công ty M là 3.089.678.924 đồng (bao gồm: Nợ gốc là: 2.864.304.385 đồng; Nợ lãi là: 225.374.539 đồng); Số tiền nợ V1 là 354.189.892 đồng (bao gồm: Nợ gốc là: 318.256.043 đồng; Nợ lãi là: 35.933.849 đồng).
  • - Yêu cầu Tòa án cho tiếp tục tính lãi quá hạn và tiền phạt chậm trả lãi khoản vay theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tính đến ngày ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A thực tế trả hết nợ cho V1 và J.
  • - Trường hợp ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho V1 và J thì V1 và J có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BS 259492, số vào sổ cấp GCN: CH00001 do UBND huyện K cấp ngày 20/01/2015; Ngày 26/05/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tương L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 2275, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 20/12/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Hòa Bình.

Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán cho V1 và J theo đúng tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.

- Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Jupiter và/hoặc V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho J và/hoặc V1 cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.

Ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải chịu án phí và các chi phí tố tụng liên quan (nếu có).

* Tại Bản tự khai ngày 21/11/2024 của ông Nguyễn Tương L – Bị đơn trình bày: Ông L xác nhận ngày 20/12/2022 ông và vợ ông là bà Phạm Thị Vân A có ký kết với Ngân hàng TMCP V (V1) vay số tiền là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 13,2%/năm, thời hạn vay là 300 tháng, mục đích sử dụng vốn vay là vay để mua bất động sản là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Đến ngày 15/11/2023 ông L và vợ là chị Vân A tiếp tục ký kết với V1 Hợp đồng tín dụng số LN2311070801358 vay số tiền 778.000.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi tám triệu đồng). Tính đến ngày 20/9/2024 vợ chồng ông còn nợ ngân hàng V1 tổng số tiền: Gốc là 3.182.560.428 đồng, lãi: 109.822.224 đồng, tổng dư nợ là: 3.292.382.652 đồng. Nay ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông phải thanh toán số tiền nợ như trên, ông đồng ý. Nếu đến hạn mà ông không trả được nợ ông đồng ý để ngân hàng V1 kê biên, phát mại tài sản bảo đảm mà ông đã thế chấp tại ngân hàng là quyền sử dụng thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 259492 tại thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình để thu hồi nợ cho nguyên đơn.

* Tại Bản tự khai ngày 04/01/2025 của bà Phạm Thị Vân A – Bị đơn trình bày: Bà xác nhận, bà có được tham gia ký kết Hợp đồng tín dụng với ngân hàng V1 nhưng bà hoàn toàn không sử dụng số tiền trên và không liên quan gì đến khoản vay đó, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại Bản tự khai ngày 13/01/2025 của bà Bùi Thị Thanh T3 – người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà là vợ của anh Bùi Khánh T4, hiện đang sinh sống trên thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09 tại xóm Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Việc mua bán tài sản và thế chấp vay vốn ngân hàng V1 giữa anh Nguyễn Tương L và chồng bà là anh Bùi Khánh T4 như thế nào, bà không nắm được rõ. Còn khối tài sản trên đất được hình thành từ trước khi vay vốn, vợ chồng bà không xây dựng thêm cái gì khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Bùi Khánh T4: Đã được Tòa án báo gọi, triệu tập hợp lệ, nhiều lần, ông T4 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án đã tiến hành lập biên bản các thủ tục tống đạt, niêm yết công khai, hợp lệ các giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án tại nơi cư trú của ông T4. Tuy nhiên ông T4 vẫn không đến Tòa án để trình bày lời khai do vậy không có ý kiến, quan điểm trình bày gì về nội dung vụ án.

* Ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa:

  • - Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M giữ nguyên nội dung, yêu cầu khởi kiện như trong đơn khởi kiện số tiền nợ gốc và lãi và các bản tự khai đã giao nộp tại Tòa án. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn công ty M và ngân hàng V2 rút một phần yêu cầu khởi kiện về tính lãi phạt.
  • - Bị đơn ông Nguyễn Tương L, bà Phạm Thị Vân A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thanh T3, ông Bùi Khánh T4 vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày gì.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và đường lối giải quyết vụ án như sau:

  • - Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi đến Tòa trình bày lời khai, mặc dù sau đó đã được báo gọi, triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa là vi phạm nghĩa vụ thể hiện tại các Điều 70, 72 và 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điều 147, điều 227, điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự; Căn cứ vào Điều 117; 292, 298, 299, 317, 319, 320, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ vào khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 và công ty M.

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP V (V2) và công ty M tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2211257565388 (LD2236102666) ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2311070801358 (LD2332001386) ngày 17/11/2023 tính đến ngày 16/6/2025 tổng cộng cả gốc và lãi số tiền là 3.582.421.948 đồng (Ba tỷ năm trăm tám mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng), Cụ thể số tiền nợ gốc là 3.182.560.428 đồng (Ba tỷ một trăm tám mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), số tiền nợ lãi trong hạn là 85.568.974 đồng (T5 mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi tư đồng), lãi quá hạn số tiền là 314.292.540 đồng (Ba trăm mười bốn triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Trong đó, nợ công ty M số tiền gốc và lãi là 3.224.179.753 đồng (Ba tỷ hai trăm hai mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng), cụ thể nợ gốc số tiền là 2.864.304.385 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm linh tư nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng), lãi trong hạn số tiền là là 77.012.077 đồng (Bảy mươi bảy triệu không trăm mười hai nghìn không trăm bảy mươi bảy đồng), lãi quá hạn số tiền là 282.863.291 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó, trả cho Ngân hàng V2 tổng số tiền cả gốc là lãi là 358.242.195 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), cụ thể, số nợ gốc là 318.256.043 đồng (Ba trăm mười tám triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn không trăm bốn mươi ba đồng), nợ lãi trong hạn là 8.556.897 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 31.429.255 đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 17/6/2025 cho đến khi thi hành án xong ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thoả thuận trong các hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất của khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Trường hợp ông Nguyễn Tương L và Phạm Thị Vân A không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BS 259492, số vào sổ cấp GCN: CH00001 do UBND huyện K cấp ngày 20/01/2015; Ngày 26/05/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tương L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 2275, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 20/12/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Hòa Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Ngân hàng TMCP V và người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ là công ty M khởi kiện ông Nguyễn Tương L1 và vợ là bà Phạm Thị Vân A, ông L1 có nơi cư trú tại phố B, xã M, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Khánh T4 và bà Bùi Thị Thanh T3 đã được Toà án báo gọi, triệu tập nhiều lần. Nhưng ông L, bà Vân A, bà T3 chỉ đến Tòa 01 lần trình bày bản tự khai tại Tòa về nội dung vụ án. Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án báo gọi, triệu tập hợp lệ, nhiều lần, nhưng ông L, bà Vân A, bà T3, ông T4 vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã tiến hành lập biên bản các thủ tục tống đạt, niêm yết công khai, hợp lệ các giấy báo, giấy triệu tập của Tòa án tại nơi cư trú của ông L, bà Vân A, bà T3, ông T4 theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần hai ông Nguyễn Tương L, bà Phạm Thị Vân A, bà Bùi Thị Thanh T3, ông Nguyễn Khánh T6 vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc đưa Công ty cổ phần M vào tham gia tố tụng: Ngày 20/9/2024 ngân hàng V1 đã nộp đơn khởi kiện đòi nợ đối với ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A. Đến ngày 27/12/2024 ngân hàng V1 đã bán một phần khoản nợ (được xác định bằng 90% của nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm bồi thường thiệt hại, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác theo các Hợp đồng cho vay được ký kết) của ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A cho Công ty cổ phần M theo Hợp đồng mua bán nợ số: 17/2024/VPB-JUPITER. Hợp đồng mua bán nợ được hai bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị lừa dối, ép buộc, đe dọa, nhầm lẫn. Do vậy, Tòa án đưa Công ty cổ phần M vào tham gia tố tụng với tư cách là đồng nguyên đơn với Ngân hàng V1 là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[1.4] Về việc đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng: Ông Bùi Khánh T4 và bà Bùi Thị Thanh T3 là những người đang trực tiếp sinh sống, quản lý các tài sản trên mảnh đất được thế chấp, vì vậy Tòa án đưa những người trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đòi tiền nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng nhận thấy:

2.1. Đối với yêu cầu trả nợ gốc và lãi giữa ngân hàng V1 và ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị vân A đã ký 02 hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2211257565388 (LD2236102666) ngày 27/12/2022. Số tiền vay: 2.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng chẵn./.). Thời hạn vay: 300 tháng (Bằng chữ: Ba trăm tháng), tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Hoàn vốn mua bất động. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2311070801358 (LD2332001386) ngày 17/11/2023. Số tiền vay: 778.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm bảy mươi tám triệu đồng chẵn./.). Thời hạn vay: 120 tháng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi tháng), tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm trang thiết bị gia đình. Lãi suất trong hạn: 12 %/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

Xét các hợp đồng tín dụng và khế ước được các bên xác nhận và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức của các Hợp đồng cho vay số: LN2211257565388, ký kết ngày 21/12/2022, Hợp đồng cho vay số: LN2311070801358, ký kết ngày 15/11/2023: Đã tuân thủ đúng quy định của Điều 116, Điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015. Về nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại điều 385, điều 386, điều 388, điều 389, điều 401, điều 402, điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4, Khoản 2 Điều 91, điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, điểm đ Khoản 1 Điều 25 Quyết định 1627/2011/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc ngân hàng N nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.

Bà Nguyễn Thị Vân A1 cho rằng, bà có ký vào hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp với chồng bà là ông Nguyễn Tương L. Tuy nhiên bà không được sử dụng số tiền trên. Quá trình giải quyết vụ án bà Vân A1 không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày trên. Xét việc bà ký vào hợp đồng vay và thế chấp là hoàn toàn tự nguyện nên bà phải liên đới cùng ông Nguyễn Tương L trả cho ngân hàng số tiền nợ trên. Cụ thể số tiền nợ gốc tính đến ngày tính đến ngày 16/6/2025 tổng cộng cả gốc và lãi số tiền là 3.582.421.948 đồng (Ba tỷ năm trăm tám mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng), Cụ thể số tiền nợ gốc là 3.182.560.428 đồng (Ba tỷ một trăm tám mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), số tiền nợ lãi trong hạn là 85.568.974 đồng (T5 mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi tư đồng), lãi quá hạn số tiền là 314.292.540 đồng (Ba trăm mười bốn triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Trong đó, nợ công ty M số tiền gốc và lãi là 3.224.179.753 đồng (Ba tỷ hai trăm hai mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng), cụ thể nợ gốc số tiền là 2.864.304.385 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm linh tư nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng), lãi trong hạn số tiền là là 77.012.077 đồng (Bảy mươi bảy triệu không trăm mười hai nghìn không trăm bảy mươi bảy đồng), lãi quá hạn số tiền là 282.863.291 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó, trả cho Ngân hàng V2 tổng số tiền cả gốc là lãi là 358.242.195 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), cụ thể, số nợ gốc là 318.256.043 đồng (Ba trăm mười tám triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn không trăm bốn mươi ba đồng), nợ lãi trong hạn là 8.556.897 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 31.429.255 đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ông L và bà Vân A1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, ngân hàng đã nhiều lần thông báo thu hồi nợ nhưng Ông L và bà Vân A1 chưa thanh toán. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Thỏa thuận về cho vay và lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định của BLTTDS 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng như quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng nên có hiệu lực. Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông L bà Vân A1 phải có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi là có căn cứ. Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phạt chậm trả. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện trên không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.

Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019. Bị đơn ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền phải thanh toán trả Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.

2.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Đối với hợp đồng thế chấp giữa bên thế chấp ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A, bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP V, tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BS 259492, số vào sổ cấp GCN: CH00001 do UBND huyện K cấp ngày 20/01/2015; Ngày 26/05/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tương L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 2275, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 20/12/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Hòa Bình. Tài sản xác lập thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp số chấp số 2275, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD-T. Hợp đồng thế chấp do ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A ký và hợp đồng thế chấp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298, 317, 319 Bộ luật dân sự 2015; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2016 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163; Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 237/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành. Do đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực pháp luật để thi hành. Ngân hàng TMCP V, Công ty cổ phần M có quyền đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên trong trường hợp bên vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ là có căn cứ.

- Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Khánh T4 và Bà Bùi Thị Thanh T3: Hiện nay, ông T4 và bà T3 ở trên thửa đất trên, Ông L cho rằng, ông cho vợ chồng ông bà T4 – T3 ở nhờ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có mặt, không có yêu cầu độc lập nên HĐXX không đề cập xem xét.

[3]. Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điều 147, điều 227, điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự; Căn cứ vào Điều 117; 292, 298, 299, 317, 319, 320, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ vào khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 và công ty M.

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP V (V2) và công ty M tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2211257565388 (LD2236102666) ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2311070801358 (LD2332001386) ngày 17/11/2023 tính đến ngày 16/6/2025 tổng cộng cả gốc và lãi số tiền là 3.582.421.948 đồng (Ba tỷ năm trăm tám mươi hai triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng), Cụ thể số tiền nợ gốc là 3.182.560.428 đồng (Ba tỷ một trăm tám mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng), số tiền nợ lãi trong hạn là 85.568.974 đồng (T5 mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm bảy mươi tư đồng), lãi quá hạn số tiền là 314.292.540 đồng (Ba trăm mười bốn triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Trong đó, nợ công ty M số tiền gốc và lãi là 3.224.179.753 đồng (Ba tỷ hai trăm hai mươi bốn triệu một trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng), cụ thể nợ gốc số tiền là 2.864.304.385 đồng (Hai tỷ tám trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm linh tư nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng), lãi trong hạn số tiền là là 77.012.077 đồng (Bảy mươi bảy triệu không trăm mười hai nghìn không trăm bảy mươi bảy đồng), lãi quá hạn số tiền là 282.863.291 đồng (Hai trăm tám mươi hai triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó, trả cho Ngân hàng V2 tổng số tiền cả gốc là lãi là 358.242.195 đồng (Ba trăm năm mươi tám triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), cụ thể, số nợ gốc là 318.256.043 đồng (Ba trăm mười tám triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn không trăm bốn mươi ba đồng), nợ lãi trong hạn là 8.556.897 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 31.429.255 đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).

Kể từ ngày 17/6/2025 cho đến khi thi hành án xong ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thoả thuận trong các hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất của khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Trường hợp ông Nguyễn Tương L và Phạm Thị Vân A không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Công ty M và Ngân hàng V1 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BS 259492, số vào sổ cấp GCN: CH00001 do UBND huyện K cấp ngày 20/01/2015; Ngày 26/05/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H – Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tương L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 2275, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 20/12/2022 tại Văn phòng C, tỉnh Hòa Bình.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn là ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải liên đới chịu 103.640.000 đồng (Một trăm linh ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP V (V2) được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 48.925.000 đồng (Bốn mươi tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004298 ngày 15/10/2024 tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sựu có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận

  • - Tòa án ND tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - Chi cục THADS thành phố HB;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 13/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 và công ty M. - Buộc vợ chồng ông Nguyễn Tương L và bà Phạm Thị Vân A phải liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP V (V2) và công ty M tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2211257565388 (LD2236102666) ngày 27/12/2022 và Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN2311070801358 (LD2332001386) ngày 17/11/2023 tính đến ngày 16/6/2025 tổng cộng cả gốc và lãi số tiền là 3.582.421.948 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger