Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/DS-ST

Ngày 11-6-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới

Ông Nguyễn Đăng Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Đoàn Lương Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 285/2024/TLST-DS ngày 14/11/2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng C; Trụ sở: 169, phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; đại diện theo ủy quyền lại là ông Nguyễn Danh T, sinh năm 1985 chức vụ Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Bình Phước;

* Bị đơn: bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1969; Trú tại: Ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1999. Trú tại: Ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng C (đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Danh T) trình bày:

Ngày 18/11/2017 Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện C cho bà T1 vay vốn từ Chương trình cho vay Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 15.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Chi phí học tập cho sinh viên Nguyễn Thị Thu T2; theo nội dung Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay lãi suất 6,6%/năm (0.55%/tháng); lãi quá hạn là 130% lãi xuất khi cho vay; thời hạn vay là 104 tháng; kỳ trả nợ 06 tháng/lần; Số tiền trả nợ là 1.600.000 đồng/lần; kỳ cuối cùng là 2.200.000 đồng; Hạn trả nợ cuối cùng là 18/07/2026. Lãi suất tiền vay được trả định kỳ vào ngày 18 hàng tháng. Mã món vay số 6600000711531138. Theo thỏa thuận thì bà T1 phải có nghĩa vụ đóng tiền lãi hàng tháng và đóng tiền gốc định kỳ 06 tháng/lần. Từ khi vay đến ngày 21/10/2022 bà T1 đã trả số tiền lãi trong hạn là 4.877.894 đồng. Sau đó không trả tiền gốc và tiền lãi, mặc dù Ngân hàng đã phối hợp với các hội đoàn thể của địa phương đã làm việc nhiều lần nhưng bà T1 cũng như thành viên trong gia đình không thực hiện nghĩa vụ trả lãi và nợ đến hạn phân kỳ theo đúng cam kết khi làm hồ sơ vay vốn. Như vậy, bà T1 đã vi phạm thỏa thuận trả tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng trong suốt thời gian dài. Tổng số tiền bà Đỗ Thị T1 còn nợ của Ngân hàng tạm tính đến ngày 11/6/2025 là 17.600.000 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 2.600.000 đồng).

Vì vậy, Ngân hàng C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà T1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu T2 phải trả có nghĩa vụ liên đới trả toàn bộ nợ gốc trước hạn của món vay để thu hồi vốn, tránh thất thoát vốn của Nhà nước, cụ thể số tiền gốc là: 15.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 11/6/2025 là 2.600.000 đồng, tổng số tiền Ngân hàng C yêu cầu ông phải có nghĩa vụ là trả là 17.600.000 đồng (bao gồm cả tiền gốc và lãi) và lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ.

*Bị đơn bà Đỗ Thị T1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu T2 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

*Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú:

Căn cứ các điều 117, 274, 275, 278, 280, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Đổ Thị T3 và chị Nguyễn Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 11/6/2025 là 17.600.000 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 2.600.000 đồng).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu bà Đỗ Thị T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 15.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền nói trên theo quy định của pháp luật tính đến ngày 11/6/2025 là 2.600.000 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn Đỗ Thị T1 có địa chỉ thường trú tại Đ, ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao và niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định nhưng quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đỗ Thị T1 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu T2 vắng mặt không có lý do nên cần căn cứ Điều 228 để xét xử vắng mặt những người nói trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định chị Nguyễn Thị Thu T2 là bị đơn, tuy nhiên nay xác định lại chị T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với ông Nguyễn Văn Q (chồng bà T1) là thành viên trong hộ vay vốn, do ông Q đã chết nên không đưa ông Q vào tham gia tố tụng với tư cách là người quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà xác định bà T1, chị T2 sẽ thừa kế quyền nghĩa vụ của ông Q.

Yêu cầu của đương sự:

[1] Xét yêu cầu của của Ngân hàng C (gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu buộc bà Đỗ Thị T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc đã vay là 15.000.000 đồng và số tiền lãi của số tiền nói trên theo quy định của pháp luật tính đến ngày 11/6/2025 là 2.600.000 đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ. Yêu cầu này được Ngân hàng chứng minh bằng Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay- thu nợ-dư nợ; sổ vay vốn và các giấy tờ khác có liên quan (giấy ủy quyền; giấy đề nghị thay đổi thông tin thẻ căn cước của bà T1; giấy xác nhận của trường Đại học công nghệ thành phố H đối với chị T2...).

Yêu cầu này của Ngân hàng là có cơ sở được chấp nhận, bởi lẽ: Hợp đồng tín dụng vay vốn (Mã món vay) số 6600000711531138 được ký kết giữa Ngân hàng và bà Đỗ Thị T1 là hợp pháp, vì thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của giao dịch dân sự theo quy định giao dịch dân sự nói chung cũng như các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nên có giá trị bắt buộc với các bên tham gia giao dịch.

Theo nội dung hợp đồng tín dụng thể hiện: bà Đỗ Thị T1 vay 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) mục đích vay để chi phí học tập cho con gái là chị Nguyễn Thị Thu T2 theo chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Lãi suất 6,6%/năm (0.55%/tháng); thời hạn vay là 104 tháng; hình thức trả lãi trả hàng tháng vào ngày 18, trả gốc theo kỳ 06 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.600.000 đồng/lần; hạn cuối cùng vào ngày 18/7/2026. Tuy nhiên, trong quá trình trả nợ, bà Đỗ Thị T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền gốc cho Ngân hàng theo các điều khoản đã cam kết, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng theo quy định.

Đối với yêu cầu trả lãi trong hạn: Theo hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng với bà Đỗ Thị T1 thì lãi suất vay là trong hạn là 6,6%/năm (0.55%/tháng); lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay; thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi nên Ngân hàng yêu cầu phải trả lãi tính đến ngày 11/6/2025 là 2.600.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng (Mã món vay số 6600000711531138 ngày 12/11/2017) là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về nghĩa vụ trả nợ: Xét đây là khoản nợ của các thành viên trong hộ gia đình gồm ông Nguyễn Văn Q, bà Đỗ Thị T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 thể hiện trong giấy ủy quyền đề ngày 10/7/2017, nội dung “...Ngày 10/7/2017 hộ gia đình chúng tôi gồm 03 người, trong đó các thành viên từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật gồm Nguyễn Văn Q, sn 1966; Đỗ Thị T1, sn 1969; Nguyễn Thị Thu T2, sn 1999... thỏa thuận cử bà Đỗ Thị T1 .... đại diện theo ủy quyền cho chúng tôi đứng tên vay và thực hiện các giao dịch với ngân hàng C xã hội theo quy định ....các thành viên cam kết chịu trách nhiệm đối với toàn bộ khoản vay tại Ngân hàng C...” giấy ủy quyền có sự chứng kiến của ông Võ Xuân S (trưởng thôn) và xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Trong “sổ vay vốn” cũng thể hiện bà T1 là người vay vốn, ông Q là người thừa kế. Mục đích vay mượn ghi trong hợp đồng là chi phí học tập cho chị T2, như vậy mục đích của việc vay mượn tiền để phục vụ cho học tập của chị T2 (con gái ông Q, bà T1) nên được xác định là khoản nợ chung của ông ông Q, bà T1 và chị T2. Tuy nhiên, qua xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn T xác định ông Nguyễn Văn Q đã chết, vì vậy cần phải buộc bà Đỗ Thị T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả toàn bộ số tiền gốc và lãi còn nợ của Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng nói trên tổng cộng là 17.600.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng là phù hợp.

Các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu

[2] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, như đã nhận định ở trên nên có cơ sở nên được xem xét chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng C được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà Đỗ Thị T1, chị Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 137; 288, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Điều 27, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.

Buộc bà Đỗ Thị T1; chị Nguyễn Thị Thu T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền tạm tính đến ngày 11/6/2025 là 17.600.000 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng, tiền lãi là 2.600.000 đồng) và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ, theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng (Mã món vay) số 6600000711531138 ngày 12/11/2017.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm tranh chấp hợp đồng tín dụng là: 880.700 đồng bà bà Đỗ Thị T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu.

Bản án (Quyết định) này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - THADS huyện Đồn g P;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa

Nguyễn Thị H

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 13/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger