|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/DS-ST
Ngày: 09 / 4 / 2025
V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Nguyễn Phan Thùy Trang;
- + Ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Hùynh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 646/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-DS ngày 31/3/2025, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (BV B1); trụ sở chính: Tòa nhà HM T N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: số E L, phường G, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài P, địa chỉ: số A T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số 858/24/BVBank/UQ-QL&THN ngày 22/8/2024).
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn P1, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của BV B1 vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; ông P1 vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 05/10/2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần B và ông Huỳnh Văn P1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 0782300030500, vay số tiền 1.700.000.000 đồng, mục đích vay mua bất động sản tại thửa đất số 119, tở bản đồ số 11 tại phường N; thời hạn vay 300 tháng (từ ngày 05/10/2023 đến ngày 05/10/2048); lãi suất 10%/năm cố định trong 12 tháng kể từ ngày bên vay được BV B1 giải ngân, sau thời hạn nêu trên lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần hoặc theo quyết định của BV B1.
Để đảm bảo khoản vay, ông Huỳnh Văn P1 đã thế chấp cho tài sản cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 ngày 12/10/2023, gồm: Thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, diện tích 172m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 238227 (số vào số cấp GCN: CS07138) do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp ngày 08/5/2018 do ông Huỳnh Văn P1, bà Trân Thanh T1 đứng tên (cập nhật nội dung thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận ngày 01/12/2020, ngày 11/10/2023).
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Huỳnh Văn P1 đã thanh toán cho BV B1 số tiền gốc: 0 đồng, tiền lãi: 45.178.649 đồng. Ông P1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc cũng như nợ lãi đối với BV B1. Khoản vay của ông P1 đã quá hạn lãi từ ngày 10/11/2023 và quá hạn vốn kể từ ngày 10/4/2024. Ngày 15/4/2024, BV B1 đã thông báo cho ông P1 việc thu hồi nợ trước hạn. Tính đến ngày 09/4/2025, ông Huỳnh Văn P1 còn nợ BV B1 1.947.091.594 đồng (trong đó, nợ gốc: 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa thanh toán: 225.769.214 đồng, lãi quá hạn: 8.788.068 đồng, lãi chậm trả lãi: 12.534.312 đồng).
Yêu cầu ông Huỳnh Văn P1 trả cho BV B1 tổng số tiền tính đến ngày 09/4/2025 là 1.947.091.594 đồng (trong đó, nợ gốc: 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa thanh toán: 225.769.214 đồng, lãi quá hạn: 8.788.068 đồng, lãi chậm trả lãi: 12.534.312 đồng); phải chịu toàn bộ số tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/4/2025 theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023 cho đến khi trả hết nợ; trường hợp ông Huỳnh Văn P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ thì BV B1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0782300031900 ngày 12/10/2023; Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông P1 tại Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông P1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng; ông P1 phải chịu toàn bộ chi phí trong quá trình tố tụng;
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0782300031900 ngày 12/10/2023; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 238227 (số vào sổ cấp GCN: CS07138) do Sở Tài nguyên môi trường Tỉnh A cấp ngày 08/5/2018 cho Huỳnh Văn P1, Trần Thanh T2 đứng tên (cập nhật nội dung thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận ngày 01/12/2020, ngày 11/10/2023) và các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan.
- Tại biên bản ghi lời khai ông Huỳnh Văn P1 ngày 04/12/2024 trình bày: Xác định có ký Hợp đồng tín dụng từng lần số 0782300030500 ngày 05/10/2023 với Ngân hàng TMCP B vay số tiền 1.700.000.000 đồng, mục đích vay, lãi suất và thời hạn vay như Hợp đồng tín dụng đã thể hiện. Xác định từ khi vay thanh toán được số tiền 45.178.649 đồng (nợ tiền lãi), không thạnh toán được nợ gốc. Để đảm bảo khoản vay có thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 0782300031900 ngày 12/10/2023. Do hoàn cảnh khó khăn xin hẹn đến ngày 01/6/2025 sẽ trả dứt số nợ vốn, lãi phát sinh cho Ngân hàng. Đồng ý phát mãi tài sản thế chấp khi ông Huỳnh Văn P1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng.
Tòa án đã tiến hành hòa giải được nhưng bị đơn vắng mặt không lý do nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Chủ tọa công bố lại ý kiến trình bày của nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, lời khai của bị đơn cùng các tài liệu chứng cứ khác.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Thỏa thuận vay nợ giữa đôi bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái quy dịnh pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Thực hiện hợp đồng vay phía ông P1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông P1 trả một lần số nợ vốn và lãi với số tiền 1.947.091.594 đồng tính đến ngày 09/4/2025 là có căn cứ chấp nhận.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật ông P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 ngày 12/10/2023. Đề nghị căn cứ các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần B khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn P1 trả nợ vay. Ông P1 có địa chỉ tại khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang nên yêu cầu kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Văn P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng các nhân ngày 12/10/2023 giữa Ngân hàng TMCP B với ông Huỳnh Văn P1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
[4] Về yêu cầu của nguyêh đơn:
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023, ông Huỳnh Văn P1 được Ngân hàng TMCP B – chi nhánh A – phòng G giải ngân số tiền 1.700.000.000 đồng thông qua đề nghị giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 05/10/2023.
Theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng, sau khi vay ông Huỳnh Văn P1 không thực hiện thanh toán nợ gốc như thỏa thuận, chỉ đóng lãi được 45.178.649 đồng thì ngưng. Khoản vay của ông P1 quá hạn lãi từ ngày 10/11/2023 và quá hạn vốn từ ngày 10/4/2024. Đến ngày 15/4/2024, Ngân hàng đã thông báo cho ông P1 biết việc thu hồi nợ trước hạn. Tính đến ngày 09/4/2025, ông Huỳnh Văn P1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền vốn, lãi là 1.947.091.594 đồng (trong đó, vốn gôc 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa thanh toán 225.769.214 đồng, lãi quá hạn 8.788.068 đồng, lãi chậm trả lãi 12.534.312 đồng); tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023.
Theo lời khai ngày 04/12/2025 của ông Huỳnh Văn P1 xác định ngày 05/10/2023 có ký Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 và ngày 12/10/2023 ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 với BV B1 để vay số tiền 1.700.000.000 đồng, mục đích vay, thời hạn vay cũng như lãi suất đã thể hiện trong Hợp đồng. Từ khi vay đến nay chỉ đóng lãi được 45.178.649 đồng, chưa thanh toán nợ gốc. Xác định tính đến ngày 04/4/2024 còn nợ lại BV B1 số tiền 1.740.364.935 đồng (trong đó, vốn gốc 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn 40.054.228 đồng, lãi chậm trả lãi 310.707 đồng). Đồng ý trả nợ và do hoàn cảnh khó khăn hẹn đến ngày 01/6/2025 sẽ thanh toán dứt khoản nợ. Đồng ý chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 05/4/2024 theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng cho đến kbi thanh toán xong khoản nợ cho BV B1.
Tòa án tiến hành hòa giải để ghi nhận thỏa thuận của các đương sự, ông P1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Nhận thấy, giữa BV B1 và ông Huỳnh Văn P1 có giao kết hợp đồng tín dụng để ông P1 vay tiền. Quá trình vay do ông P1 không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, việc BV B1 khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn P1 trả nợ trước hạn là có căn cứ. BV B1 yêu cầu ông P1 có trách nhiệm trả số nợ vốn lãi tính đến ngày 09/4/2025 là 1.947.091.594 đồng (trong đó, vốn gôc 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa thanh toán 225.769.214 đồng, lãi quá hạn 8.788.068 đồng, lãi chậm trả lãi 12.534.312 đồng), tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/4/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận.
[5] Về Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 ngày 12/10/2023 được công chứng, chứng thực tại Văn phòng công chứng Nguyễn Công T3 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 12/10/2023 tại Văn phòng Đ Chi nhánh C, tỉnh An Giang phù hợp với quy định pháp luật nên làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Tại biên bản lời khai ngày 04/12/2024, ông Huỳnh Văn P1 cũng thống nhất nếu ông P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì BV B1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã ký kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Xét, chấp nhận yêu cầu của BV B1, duy trì Hợp đồng thể chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 ngày 12/10/2023 giữa BV B1 với Huỳnh Văn P1 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ.
Đối với ý kiến của BV B1 về việc toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Huỳnh Văn P1 tại Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Huỳnh Văn P1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn thiếu cho Ngân hàng. Nhận thấy, khoản nợ BV B1 yêu cầu đối với ông Huỳnh Văn P1 đã được Tòa án chấp nhận vốn, lãi và duy trì hợp đồng thế chấp nên không cần thiết tuyên ý kiến này trong quyết định của bản án.
[6] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tố tụng, phát sinh chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 1.000.000 đồng, BV B1 đã nộp tạm ứng số tiền này. Yêu cầu của BV B1 được chấp nhận nên ông Huỳnh Văn P1 phải chịu chi phí này theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần buộc ông Huỳnh Văn P1 hoàn trả lại cho BV B1 số tiền 1.000.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
Ông Huỳnh Văn P1 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho BV B1 nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 70.412.748 đồng, làm tròn số 70.413.000 đồng.
BV B1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho BV B1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
BV B1 và ông Huỳnh Văn P1 vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 100 và 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần B (BV B1).
Buộc ông Huỳnh Văn P1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B (BV B1) số tiền vốn, lãi tính đến ngày 09/4/2025 là là 1.947.091.594 đồng (trong đó, vốn gốc 1.700.000.000 đồng, lãi trong hạn chưa thanh toán 225.769.214 đồng, lãi quá hạn 8.788.068 đồng, lãi chậm trả lãi 12.534.312 đồng).
Kể từ ngày 10/4/2025, ông Huỳnh Văn P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 0782300030500 ngày 05/10/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần B (BV B1) thì lãi suất mà ông P1 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0782300031900 ngày 12/10/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần B với ông H để thu hồi nợ.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Văn P1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền 1.000.000 đồng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:
Ông Huỳnh Văn P1 phải chịu 70.413.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần B (BV B1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 32.106.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0004201 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Thời hạn kháng cáo của BV B1 và ông Huỳnh Văn P1 vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh N |
Bản án số 13/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: DS BVBANK - PHƯỚC
