| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 13 /2025/DS-PT
Ngày 23 - 5 - 2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Trần Văn San.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký TAND tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lương Thị X, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Xin giải quyết vụ án vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Xin giải quyết vụ án vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam; hiện đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh H.
- Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam; hiện đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh H.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lương Thị X và anh Nguyễn Văn D là: Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị B là: Bà Lương Thị X, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam. Xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị B là: Bà Phạm Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
- - Ý kiến của nguyên đơn như sau: Năm 2000 thực hiện phương án dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, gia đình anh được nhà nước cân đối diện tích từ nhà ra đồng và cấp cho diện tích đất ao tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 29, diện tích 1.150m² đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U100368 ngày 06/01/2002, đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn B1 (bố đẻ anh). Sau khi được giao vị trí đất ao nêu trên gia đình anh vẫn sử dụng mà không có tranh chấp gì. Ngày 05/10/2023, gia đình anh mang vật liệu gạch, xi măng, cát đến xây tường bao thì ông Nguyễn Văn H ra ngăn cản không cho xây dựng và nói đây là đất của ông H, nên dẫn đến hai bên xảy ra tranh chấp. Sau đó hai bên đã ngồi nói chuyện để thoả thuận, ông H yêu cầu gia đình anh phải thanh toán trả ông H trị giá đất đã san lấp là 40.000.000 đồng, gia đình anh không đồng ý thanh toán số tiền trên, vì cho rằng diện tích đất (mét khối) ông H đã san lấp không đến số tiền như ông H đã thực tế bỏ ra. Đến nay thời gian đã kéo dài, do hai bên chưa giải quyết xong, gia đình anh cũng không được sử dụng diện tích đất này.
- Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình, anh đề nghị Toà án buộc ông Nguyễn Văn H di chuyển toàn bộ phần đất đã san lấp và cây cối trên đất tại vị trí thửa đất số 155, tờ bản đồ số 29 mà gia đình anh đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Ông H sử dụng 40m² đất ao lấn chiếm trái phép của gia đình anh từ năm 2004 đến nay là 20 năm, anh yêu cầu ông H bồi thường cho gia đình anh tiền thu từ việc sử dụng đất, mỗi năm là 500.000 đồng, tổng là 500.000 đồng x 20 năm = 10.000.000 đồng.
- Ý kiến của bị đơn (ông Nguyễn Văn H) lưu tại hồ sơ như sau: Gia đình ông có lấn chiếm diện tích 40m² đất ao tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam từ trước năm 1993 và vẫn đang sử dụng cho đến nay. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì mà đến năm 2002, UBND xã B, huyện L đã trình cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất ao, trong đó có 40m² ông đang sử dụng cho hộ ông Nguyễn Văn B1 (ông B1 là chồng bà X). Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên gia đình ông không biết. Đến ngày 02/10/2023 cán bộ địa chính xã B, huyện L xuống cắm mốc vị trí đất gia đình ông đang sử dụng, đến ngày 05/10/2023 thì anh D và anh S mang vật liệu đến xây tường bao thì xảy ra tranh chấp. Ngày 14/4/2024 thì anh S và anh D tiếp tục lại mang vật liệu đến xây thì lúc đó hai bên xảy ra đánh nhau và đã giải quyết bằng một vụ án hình sự khác. Ngày 29/10/2024 anh S và anh D tiếp tục mang vật liệu đến xây, lúc này ông không có nhà nên mẹ đẻ ông đến xã báo với UBND xã B, nhưng xã B không giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà X buộc ông phải di chuyển toàn bộ đất san lấp và cây cối trên đất, đồng thời phải trả cho bà X số tiền 10.000.000 đồng là không đúng, đề nghị Toà án huyện L bác yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị X.
- Kết quả thẩm định, định giá phần đất và tài sản trên đất tranh chấp như sau: Phần đất tranh chấp có diện tích 40m² trong thửa đất số 155, tờ bản đồ số 29, có tổng diện tích là 1.150m2 đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U100368 ngày 06/01/2002 đứng tên chủ sử dụng là hộ ông Nguyễn Văn B1.
- Đất đã được san lấp 42m³ x 150.000đ/m³ = 6.300.000 đồng.
- Tài sản trên đất gồm: Cây tre loại đường kính 3cm đến 5cm, cao trên 3m, có tổng 28 cây x 10.000đồng/cây = 280.000 đồng; chuối mới trồng 20 cây x 26.000đồng/cây = 520.000 đồng; khóm chuối có 02 khóm x 106.000đồng/khóm = 212.000 đồng.
- Tổng giá trị các tài sản trên là: 7.312.000 (Bảy triệu ba trăm mười hai nghìn) đồng.
- * Tại Bản án Dân sự sơ thẩm sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã quyết định:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 166 và Điều 580 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị X về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lương Thị X, giao cho bà X được quyền quản lý, sử dụng khối lượng 42m³ đất và 28 cây tre, 20 cây chuối, 02 khóm chuối do ông Nguyễn Văn H san lấp và trồng trọt trên thửa đất ao số 155, tờ bản đồ số 29, địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam.
Bà Lương Thị X có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 7.312.000 (Bảy triệu ba trăm mười hai nghìn) đồng, trị giá 42m³ đất san lấp và cây cối trồng trên đất.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 14/02/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn ông Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Cho rằng diện tích đất tranh chấp với gia đình bà Lương Thị X 40m² có nguồn gốc đất HTX quản lý, gia đình ông H đã sử dụng trồng cây ở vị trí góc ao từ trước năm 1990. Tuy nhiên, ông H thừa nhận gia đình ông không được nhà nước giao, trừ tiêu chuẩn đất nông nghiệp vào vị trí đất ao này, gia đình ông chưa đăng ký quyền sử dụng đất, không có tên trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất và thừa nhận không có tài liệu pháp lý nào chứng minh 40m² đất ao của gia đình anh. UBND xã trừ tiêu chuẩn đất nông nghiệp của gia đình bà X vào vị trí đất ao này khi nào gia đình ông không biết. Đề nghị công nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông trên thực tế.
- - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước bà Phạm Thị N bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị B: Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng không có tài liệu chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị không chấp nhận.
- - Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn H. Tuy nhiên cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân về buộc ông H phải trả lại 40 m² đất và không được cản trở quyền sử dụng đất gia đình bà X, sửa án phí sơ thẩm (ông H phải chịu sơ thẩm không giá ngạch).
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H trong thời hạn luật định. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của cấp phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía bị đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt nên xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H.
- Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Căn cứ vào kết quả thu thập chứng cứ, kết quả xác minh tại UBND xã B, trên cơ sở kiểm tra hồ sơ địa chính qua các thời kỳ và các thủ tục có liên quan; lời khai của các đương sự trong vụ án thì thửa đất thửa đất số 155, tờ bản đồ số 29, tổng diện tích 1.150m² được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/2002, tên hộ ông Nguyễn Văn B1. Thửa đất có nguồn gốc là đất ao, do Hợp tác xã N1, B quản lý. Đến năm 2000 thực hiện Chỉ thị 15 của Tỉnh ủy H2, về việc dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, khi lập phương án và làm các quy trình thì hộ ông B1 được giao toàn bộ thửa đất ao trên, trong đó có tiêu chuẩn đất của ông Nguyễn Văn B1, bà Lương Thị X và 04 người con. Sau khi được nhà nước giao đất, hộ bà X vẫn sử dụng ao để thả cá, phần góc ao có diện tích 40m² ông H có đổ đất từ nhiều năm nhưng khi nhà nước giao toàn bộ thửa đất ao cho gia đình bà X sử dụng các bên không ai có ý kiến gì. Đến năm 2023 khi anh D và anh S xây bờ ao thì các bên phát sinh tranh chấp. Lời khai của ông H cũng thừa nhận diện tích đất trên là do ông lấn chiếm sử dụng mà không được nhà nước công nhận, nên việc nguyên đơn khởi kiện buộc ông H phải trả lại quyền sử dụng đất đã lấn chiếm là có căn cứ chấp nhận.
- Về tài sản là đất và cây cối trên phần đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H đều thừa nhận khoảng trước năm 1993 ông là người lấn chiếm diện tích 40m² đất ao do Hợp tác xã quản lý để đổ đất, trồng cây đến nay. Nguyên đơn bà X cũng như kết quả xác minh tại địa phương cũng xác định ông H là người đã đổ đất, trồng cầy trên một phần diện tích đất ao của hộ gia đình bà X. Như vậy, có cơ sở xác định toàn bộ khối lượng đất và cây cối trên diện tích 40m² trong thửa đất ao số 155, tờ bản đồ số 29, vị trí giáp ngõ đi của gia đình ông H là tài sản do ông H san lấp và trồng trọt, về thời gian sử dụng phần đất này thì quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều xác định trước năm 2004 khi nhà nước giao đất cho hộ ông Nguyễn Văn B2. Khi nhà nước giao đất cho hộ ông B2 nhưng không giải quyết về tài sản này, đồng thời quá trình sử dụng đất hộ gia đình bà X cũng không có ý kiến, đề nghị gì. Vì vậy, gia đình bà X phải có trách nhiệm thanh toán trả cho ông H giá trị tài sản mà ông H đã san lấp và trồng trọt trên đất là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Văn H đã san lấp khối lượng 42m³ đất và cây cối trồng trọt trên một phần đất tại thửa đất ao số 155, tờ bản đồ số 29 là có căn cứ. Cấp sơ thẩm giao cho bà Lương Thị X được quyền quản lý, sử dụng và phải thanh toán khối lượng đất và cây cối do ông H đã san lấp và trồng trọt, bà X có trách nhiệm thanh toán trả cho ông H số tiền trị giá các tài sản trên do Hội đồng định giá đã kết luận là 7.312.000 (Bảy triệu ba trăm mười hai nghìn) đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì vậy, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn H. Và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại diện tích đất ao nêu trên để buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của người khác là chưa phù hợp; án phí ông H phải chịu là án phí không có giá ngạch như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hà Nam.
Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên ông Nguyễn Văn H không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất và án phí sơ thẩm.
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 166 và Điều 580 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- - Buộc gia đình ông Nguyễn Văn H phải trả lại bà bà Lương Thị X 40 m² đất tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 29 xã B, được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/2002.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 đồng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân theo số biên lai 0001916 ngày 24/3/2025, ông H đã thi hành xong.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H không phải chịu.
Không ai được cản trở quyền sử dụng đất của bà Lương Thị X theo quy định của luật đất đai.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nguyễn Quốc Trưởng |
Bản án số 13/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 13/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mốc giới quyền sử dụng đất
