Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Sỹ.
Bà Nguyễn Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với bị cáo:

Phàn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 13/4/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phàn Văn N, sinh năm 1971 và con bà: Đặng Thị K, sinh năm 1968; có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ: Đặng Thị N1, sinh năm 1989 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Minh H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Vắng mặt có lý do).

Nguyên đơn dân sự: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C - Viên chức Ban quản lý (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 10 năm 2022, bị cáo Phàn Văn T một mình đi vào khu rừng phòng hộ thuộc thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang để tìm gỗ sửa nhà, T phát hiện 03 cây gỗ trong đó có 02 cây gỗ Trai và 01 cây gỗ Nghiến còn tươi, đứng có thể xẻ làm xà, cột nhà, tuy nhiên do chưa có máy cưa, xăng, dầu nên T đi về nhà.

Đến tháng 11 năm 2022 (không nhớ ngày) T mang theo 01 máy cưa xăng màu sơn cam - đen, 01 can nhựa màu trắng chứa 10 lít xăng, 01 con dao quắm dài khoảng 50cm cả chuôi, 01 can nhựa màu vàng chứa 05 lít nhớt, 01 túi màu trắng, 01 dây mực đi lên rừng để khai thác 02 cây gỗ Trai trên. Khi đến nơi T sử dụng máy cưa cắt gốc cây gỗ Trai thứ nhất trong khoảng 20 phút thì cây đổ, sau khoảng 30 phút nghỉ ngơi, T tiếp tục cắt gốc cây Trai thứ hai có vị trí cách cây thứ nhất khoảng 50m trong khoảng 30 phút thì cây đổ. Sau khi cây đổ, T chưa tiến hành xẻ cột, xà nhà ngay mà dự định đợi cây khô mới quay lại xẻ nên T cất giấu máy cưa xăng cùng các vật dụng khác trên rừng rồi đi về nhà.

Đến tháng 12 năm 2022 (không nhớ ngày) T tiếp tục đi lên rừng lấy máy cưa xăng ở nơi đã cất giấu rồi đi đến vị trí cây gỗ Nghiến đã phát hiện trước đó và cắt gốc cây trong khoảng 30 phút thì cây đổ, sau đó T mang theo máy cưa cùng các vật dụng khác rồi đi về nhà.

Đến tháng 02/2023 (không nhớ ngày) T nhờ bố đẻ Phàn Văn N và em trai Phàn Văn G đi giúp kê đà để xẻ cây gỗ Trai thứ nhất (G02), sau khi kê xong thì bị sập nên ông N và anh G không tham gia nữa và đi về nhà, sau đó T một mình tự kê đà lại và tiến hành cắt 01 khúc dài 12m xẻ được 07 thanh xà kích thước dài 12m x 18cm x 5cm rồi đi về nhà. Đến tháng 12 năm 2023 (không nhớ ngày) T mang theo máy cưa xăng lên rừng xẻ cây gỗ N2 đã cắt hạ trước đó thành 02 khúc, trong đó xẻ 01 khúc được 05 cái cột nhà, kích thước dài 5m x 16cm x 16cm rồi đi về nhà.

Ngày 15/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B nhận được tin báo về việc phát hiện tại khu rừng phòng hộ thuộc thôn N, xã Y, huyện B có 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến bị khai thác trái phép. Ngày 19/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với các ngành chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định tọa độ vị trí, khối lượng, thu mẫu giám định của 03 cây gỗ đã bị khai thác. Trong đó, cây gỗ thứ nhất ký hiệu G01 (Mẫu M) tổng khối lượng 3,160m³, cây gỗ thứ hai ký hiệu G02 (Mẫu M2) tổng khối lượng 2,666m³, cây gỗ thứ ba ký hiệu G03 (Mẫu M3) tổng khối lượng 3,258m³. Tổng khối lượng của 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến là: 9,084m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối) còn nguyên trên tại hiện trường đã được tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.

Tại Công văn số 18/BQLRPH ngày 23/4/2024 của Ban Q xác định vị trí 03 cây gỗ mà Phàn Văn T đã khai thác thuộc tiểu khu A; khoảnh 10; lô a; chức năng: Rừng phòng hộ; hiện trạng: rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh nghèo kiệt do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.

Ngày 24/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 111 gửi Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc V, trưng cầu 03 (ba) mẫu gỗ thu tại hiện trường ký hiệu: M1 đến M3.

Tại kết luận số 319/CNR-VP ngày 08/5/2024 của V1 rừng kết luận: “Mẫu ký hiệu M1. Tên gỗ: Nghiến, tên khoa học: Burretiodendron tonkinense nhóm gỗ: II; Mẫu gỗ ký hiệu M2, M3 đồng nhất về chủng loại gỗ. Tên gỗ: Trai (Trai lý), tên khoa học: Garcinia faqraeoides nhóm II”. Loài Nghiến, gỗ Trai được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm” ban hành kèm theo nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2021 của Chính phủ.

Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã phối hợp với các ngành chức năng đưa Phàn Văn T đến xác định hiện trường vị trí đã khai thác, kết quả chỉ dẫn trùng khớp với kết quả tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/4/2024.

Ngày 27/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phàn Văn T về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTTHS ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ N do Phàn Văn T khai thác có tổng khối lượng 9,084m³ có tổng giá trị là 57.215.500đ (Năm mươi bảy triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường vì toàn bộ số gỗ bị cáo khai thác vẫn còn nguyên tại hiện trường.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn nguyên tại hiện trường là 9,084m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối). Hiện đã tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý, bảo vệ.
  • + 01 máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam - đen, lam, xích dài 01m đã bị tháo rời khỏi máy, máy cũ đã qua sử dụng.
  • + 01 con dao quắm dài 56cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04cm, chuôi dao bằng gỗ dài 22cm, dao cũ đã qua sử dụng.
  • + 01 can nhựa loại 05 lít màu vàng, đã qua sử dụng.
  • + 01 can nhựa loại 10 lít màu trắng, đã qua sử dụng.
  • + 01 túi màu trắng kích thước 48x48cm, cũ, bẩn, đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSBM ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Phàn Văn T về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa, trên cơ sở phân tích các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Phàn Văn T phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  • - Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phàn Văn T từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự: Không.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn nguyên tại hiện trường là 9,084m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối).

Tịch thu tiêu hủy: 01 máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam - đen, lam, xích dài 01m đã bị tháo rời khỏi máy, máy cũ đã qua sử dụng; 01 con dao quắm dài 56cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04cm, chuôi dao bằng gỗ dài 22cm, dao cũ đã qua sử dụng; 01 can nhựa loại 05 lít màu vàng, đã qua sử dụng; 01 can nhựa loại 10 lít màu trắng, đã qua sử dụng; 01 túi màu trắng kích thước 48x48cm, cũ, bẩn, đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phàn Văn T miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại Luận cứ bào chữa, trợ giúp viên pháp lý nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 BLHS là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên cần xem xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo là do thiếu nhận thức, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh nhà ở xuống cấp, dột nát nên mới phạm tội, bị cáo không có mục đích trao đổi mua bán mà chỉ nhằm phục vụ cuộc sống gia đình thường ngày, quá trình giải quyết vụ án luôn ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của bản thân và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo thuộc hộ nghèo, có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, ngoài lần phạm tội trên luôn chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật của nhà nước; bị cáo là lao động chính trong gia đình có ba con nhỏ cần sự giáo dục nuôi dưỡng đầy đủ của cha mẹ, đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung và án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Phàn Văn T nhất trí với quan điểm của người bào chữa và không có tranh luận đối đáp gì.

Đại diện nguyên đơn dân sự không có tranh luận đối đáp gì.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin HĐXX cho bị cáo hưởng án treo và được áp dụng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người bào chữa đã gửi luận cứ bào chữa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy bị cáo, nguyên đơn dân sự, Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa, việc vắng mặt người bào chữa không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng của vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 12 năm 2023, bị cáo Phàn Văn T đã có hành vi khai thác trái phép 03 cây gỗ thuộc nhóm IIA (trong đó có 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến) có khối lượng 9,084 m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối) có giá trị là 57.215.500 đồng (Năm mươi bảy triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng) với mục đích làm nhà để ở. Vị trí khai thác tại tiểu khu A, khoảnh 10, lô a thuộc địa phận thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang quản lý. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...

d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 07 mét khối (m³) đến dưới 15 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 05 mét khối (m³) đến dưới 10 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA;”.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; tác động xấu đến môi trường tự nhiên, ảnh hưởng đến chức năng bảo vệ đất, nguồn nước, chống xói mòn,... của rừng phòng hộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật nhưng vẫn một mình đi lên rừng phòng hộ khai thác 03 cây gỗ thuộc nhóm IIA gây thiệt hại là 57.215.500 đồng. Tuy nhiên do hoàn cảnh gia đình thuộc hộ nghèo, không có nhà ở kiên cố, đã bị hư hỏng xuống cấp nên bị cáo mới đi lên rừng khai thác gỗ trái phép mục đích làm vật liệu làm lại nhà ở cho gia đình. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đồng thời đảm bảo được tính nhân đạo của pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trước khi phạm tội luôn chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của địa phương, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, hiện là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[6] Bị cáo Phàn Văn T đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Xét thấy bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo nên không cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA có khối lượng còn nguyên tại hiện trường là 9,084m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối) là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 máy cưa xăng, 01 con dao quắm dài 56cm; 01 can nhựa loại 05 lít màu vàng; 01 can nhựa loại 10 lít màu trắng; 01 túi màu trắng kích thước 48x48cm là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 02 cây gỗ Trai, 01 cây gỗ Nghiến nhóm IIA bị cáo khai thác vẫn còn nguyên tại hiện trường do đó nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo Phàn Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[11] Trong vụ án này còn có hành vi và đối tượng liên quan sau: Hành vi giúp kê đà để xẻ cây gỗ Trai của Phàn Văn N và Phàn Văn G, tuy nhiên sau khi kê xong bị sập thì N và G không tham gia giúp bị cáo nữa và đi về nhà, bị cáo T một mình tự cắt xẻ cây gỗ trên. Xét thấy không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Từ những căn cứ trên đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ được chấp nhận.

[13] Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt tù cho hưởng án treo là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

[14] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn T phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt: Phàn Văn T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phàn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

3. Về hình phạt bổ sung: Không.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 (Hai) cây gỗ Trai, 01 (Một) cây gỗ Nghiến nhóm IIA đã bị chặt đổ, có khối lượng còn nguyên tại hiện trường là 9,084m³ (Chín phẩy không trăm tám mươi tư mét khối).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) máy cưa xăng trên máy không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam - đen, lam, xích dài 01m đã bị tháo rời khỏi máy (Cũ đã qua sử dụng, máy trong tình trạng không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong máy); 01 (một) con dao quắm dài 56cm cả chuôi dao, bản rộng nhất 04cm, chuôi dao bằng gỗ dài 22cm (Dao cũ đã qua sử dụng); 01 (một) can nhựa loại 05 lít màu vàng (đã qua sử dụng), đã qua sử dụng; 01 (một) can nhựa loại 10 lít màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) Túi màu trắng, kích thước 48x48cm (cũ, bẩn, đã qua sử dụng).

(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

5. Về trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phàn Văn T được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện + tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - UBND xã Yên Định, huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hoàng Văn Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Van T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger