Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 23-5-2024.

V/v: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy

Ông Thái Văn Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định:

Bà Đặng Thị Thanh Trúc- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về: “Ly hôn của nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.

Do bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1966; có mặt

Địa chỉ: A N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Chị Hồng Thị Kim C, sinh năm 1969

Địa chỉ: A N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người kháng cáo: Bị đơn chị Hồng Thị Kim C; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/8/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Công T trình bày:

+ Quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hồng Thị Kim C tự nguyện tìm hiểu thời gian khoảng 3 tháng, sau đó đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố Q vào năm 1988. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chị C có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, xem thường chồng và gia đình chồng; anh và chị C đã ly thân từ giữa năm 2020. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung nặng nề, nên xin ly hôn chị C.

+ Quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Công Tân sinh năm 1989 và Nguyễn Hữu P sinh năm 1992; sức khỏe 02 con bình thường; đã trưởng thành, không yêu cầu Toà giải quyết.

+ Quan hệ tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn chị Hồng Thị Kim C không đến Tòa làm việc, Tòa đã tiến hành lấy lời khai không được, xác minh tại địa phương, tống đạt hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.

Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ khoản1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết của Quốc hội số:35/2000/QH10 ngày 09.6.2000.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Công T với chị Hồng Thị Kim C là vợ chồng.
  2. Về quan hệ con chung:

    Anh Nguyễn Công T với chị Hồng Thị Kim C có 02 con chung: Nguyễn Công Tân sinh năm 1989, Nguyễn Hữu P sinh năm 1992, sức khỏe 02 con bình thường, đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

  3. Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu, Toà án không giải quyết.
  4. Về án phí HNGĐ-ST: Anh Nguyễn Công T phải chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000733 ngày 11.10.2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Anh T đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/02/2024, bị đơn chị Hồng Thị Kim C kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn. Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn kháng cáo là: giấy “Chứng nhận kết hôn” đứng tên Hồng Thị Kim C và Nguyễn Công T ngày 02/4/1988 của UBND phường Q, thành phố Q(Công chứng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn chị Hồng Thị Kim C giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng: Chị và anh Nguyễn Công T kết hôn ngày 02/4/1988 tại UBND phường Q theo Giấy chứng nhận kết hôn chị đã nộp, nên việc Tòa án tuyên không công nhận chị và anh T là vợ chồng là không đúng pháp luật, không khách quan, ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của chị và 2 con. Thừa nhận, vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T có người phụ nữ khác, nên vợ chồng sống ly thân từ ngày 07/9/2023. Tình cảm của chị vẫn còn, nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Công T có hai con chung đã trưởng thành là Nguyễn Công T1, sinh năm 1989 và Nguyễn Hữu P, sinh năm 1992.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Công T và các chị em gia đình anh T tự ý nhận tiền cọc bán nhà số196 Nguyễn Thái H, T, trong khi vợ chồng và 2 con chị được hưởng thừa kế theo di chúc của cha mẹ anh T, nên anh T yêu cầu ly hôn là nhằm chiếm đoạt tài sản nêu trên.

Còn anh Nguyễn Công T trình bày: Anh và chị C có kết hôn năm 1988, nhưng đăng ký kết hôn cụ thể phường nào anh không nhớ. Nay thừa nhận, anh và chị Hồng Thị Kim C đăng ký kết hôn tại UBND phường Q theo giấy Chứng nhận kết hôn chị C cung cấp là đúng. Tuy nhiên, do vợ chồng mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ giữa năm 2020, nguyên nhân là do chị C có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, chứng cứ là các tin nhắn trên điện thoại chị C anh đã cung cấp. Nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn, cuộc sống chung nặng nề, nên xin ly hôn chị Hồng Thị Kim C.

Về con chung: Anh và chị Hồng Thị Kim C có hai con chung đã trưởng thành là Nguyễn Công T1, sinh năm 1989 và Nguyễn Hữu P, sinh năm 1992.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của chị Hồng Thị Kim C, sửa bản án sơ thẩm số: 91/2024HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo hướng sửa quan hệ pháp luật tranh chấp, chấp nhận khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn chị Hồng Thị Kim C trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo đúng quy định, chị C đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo bị đơn chị Hồng Thị Kim C yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, HĐXX thấy rằng:

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Công T yêu cầu ly hôn chị Hồng Thị Kim C, nhưng không cung cấp được giấy “Chứng nhận kết hôn”. Tòa án đã đi xác minh tại phường H và phường N, thành phố Q(theo yêu cầu anh T), nhưng anh T và chị C không có tên trên sổ đăng ký kết hôn lưu tại phường. Cho nên, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn của nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”.

Sau khi xử sơ thẩm, bị đơn chị Hồng Thị Kim C kháng cáo, tài liệu chứng cứ kèm theo đơn kháng cáo là giấy “Chứng nhận kết hôn” ngày 02/4/1988 của UBND phường Q, thành phố Q. Tại phiên tòa phúc thẩm: anh T thừa nhận anh và chị C kết hôn ngày 02/4/1988 tại UBND phường Q theo giấy “Chứng nhận kết hôn” chị C đã cung cấp. HĐXX xét thấy: Tại cấp phúc thẩm chị C cung cấp giấy Chứng nhận kết hôn ngày 02/4/1988 của UBND phường Q và được anh T thừa nhận nên việc thu thập chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ, có căn cứ xác định quan hệ giữa anh T và chị C là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn về quan hệ pháp luật tranh chấp là "Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy, quan hệ vợ, chồng là sự tự nguyện yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Công T cho rằng vợ chồng mâu thuẫn, đã sống ly thân từ giữa năm 2020, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị C có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, chứng cứ là các tin nhắn trên điện thoại của chị C anh đã cung cấp, nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn. Còn chị Hồng Thị Kim C thừa nhận vợ chồng sống ly thân từ ngày 07/9/2023, nguyên nhân là do anh T có người phụ nữ khác, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh và không được anh T thừa nhận. Cho thấy, hôn nhân giữa anh T và chị C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cho nên, anh T yêu cầu ly hôn chị C là có căn quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về quan hệ con chung: anh Nguyễn Công T, chị Hồng Thị Kim C thống nhất có hai con chung đã trưởng thàng là Nguyễn Công T1, sinh năm 1989 và Nguyễn Hữu P, sinh năm 1992.

[4] Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện ngày 28/7/2023 anh Nguyễn Công T có xác định tài sản chung là nhà đất tại số B đường N, thành phố Q. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm: anh T không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung này, chị Hồng Thị Kim C đã được thông báo, tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của anh T. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị C cho rằng: anh T và các chị em anh T tự ý nhận tiền cọc bán nhà 196 N, thành phố Q, trong khi vợ chồng và 2 con của chị được hưởng thừa kế theo di chúc của cha mẹ anh T, nên việc anh T yêu cầu ly hôn là nhằm chiếm đoạt tài sản nêu trên, chưa giải quyết xong về tài sản chung. HĐXX xét thấy: Tại cấp sơ thẩm anh T không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Việc nhận tiền cọc bán nhà 196 N, thành phố Q đã được giải quyết theo bản án số: 37/2023/DS-ST ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, đã có hiệu lực pháp luật. Mặc khác, anh T chị C có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn.

Cho nên, việc chị C kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do: Chị và anh T có đăng ký kết hôn, nhưng Tòa tuyên không công nhận là vợ chồng; chưa giải quyết xong về tài sản chung, anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác là không có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Hồng Thị Kim C; sửa bản án sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn về quan hệ pháp luật tranh chấp và quan hệ hôn nhân giữa anh T, chị C.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên chị Hồng Thị Kim C không phải chịu án phí HNGĐ phúc thẩm. Trả lại chị Hồng Thị Kim C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000557 ngày 04/3/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

[6] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hônvà Gia;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Hồng Thị Kim C.
  2. Sửa bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 91/2024/HNGĐ-ST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn về quan hệ pháp luật tranh chấp và về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Công T và chị Hồng Thị Kim C.
    1. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”
    2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Công T được ly hôn chị Hồng Thị Kim C.
  3. Về con chung: Anh Nguyễn Công T và chị Hồng Thị Kim C có hai con chung đã trưởng thành là Nguyễn Công T1, sinh năm 1989 và Nguyễn Hữu P, sinh năm 1992.
  4. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Công T, chị Hồng Thị Kim C có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định pháp luật
  5. Về án phí:

    5.1 Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Công T phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000733 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn(anh T đã nộp xong).

    5.2 Án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Chị Hồng Thị Kim C không phải chịu án phí HNGĐ phúc thẩm. Trả lại cho chị Hồng Thị Kim C 300.000đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số: 0000557 ngày 04/3/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND Cấp cao;
  • -VKSND tỉnh Bình Định;
  • -Các đương sự;
  • -Chi cục THADS thành phố Quy Nhơn;
  • - TAND thành phố Quy Nhơn;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger