Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK LẮK

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày 23-08-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Dũng; ông Trần Văn Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Y Dung B, sinh ngày: 24/4/2001 tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; học vấn: 7/12; dân tộc: M’Nông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Đông P (đã chết) và bà H Cưôn K; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phùng Văn H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

- Bị hại: ông Y Lak Pang T, sinh năm 1975; địa chỉ: Buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Y Nđong Pang T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt;

- Người làm chứng: anh Y Phon T2, sinh năm 2006; địa chỉ: Buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

- Người đại diện địa phương tham gia tố tụng chưa thành niên: Bà H Jin T3; địa chỉ: Buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

- Người phiên dịch 1: Bà H Bạch Uông - công chức tư pháp xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

- Người phiên dịch 2: Bà H Dung Buôn Krông, địa chỉ: Buôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau một ngày cùng đi làm thuê theo nhóm anh chị em với nhau, khoảng 20 giờ ngày 06/12/2024, Y D Buôn Krông cùng Y Phon T2, Y Phơ J và Y Thức P Ting cùng ăn cơm tối tại nhà Y Phơ J ở cùng buôn B. Trong lúc ăn cơm, cả nhóm có uống khoảng 01 lít rượu; đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Y D chở Y P1 bằng xe môtô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 49C1-119.21 từ nhà Y P2 ra quốc lộ B và theo hướng Đắk Lắk - Lâm Đồng để về nhà.

Khi đi đến km80 + 320 trên quốc lộ B thì Y D gây ra va chạm từ phía sau vào người ông Y Lak Pang T đang ngồi lề đường theo hướng cùng chiều làm ông Y L tử vong, Y D bị bất tỉnh nên được đưa Trạm y tế xã K sau đó đưa ra Trung tâm y tế huyện L cấp cứu; Y P1 bị thương tích nhẹ và xe môtô bị hư hỏng nhẹ.

Qua các biện pháp nghiệp vụ, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L đã xác định được:

Vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường tại K + 320 quốc lộ B thuộc địa phận buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Mặt đường được trải bê tông nhựa và xi măng rộng 830cm, ở giữa có vạch kẻ đứt quãng, chia mặt đường thành hai phần đường bằng nhau rộng 415cm, sát hai bên mép đường là hai mương thoát nước được xây bằng bê tông xi măng có chiều sâu trên mặt là 120cm, chiều sâu 40cm và chiều rộng đáy là 50cm, cách trung tâm hiện trường về hai hướng khoảng 100 m không có biển báo hiệu giao thông.

Qua hình ảnh video của camera ghi hình tại nhà ông Đào Đăng K1 xác định vị trí của một người đàn ông mặc quần áo màu đen trong tư thế ngồi bệt xuống mặt đường và đang lết đi trên quốc lộ B theo hướng tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Lâm Đồng cách mép đường theo hướng đi ngược chiều của Y D đi là 605cm. Điểm va chạm giữa xe mô tô và người ông Y L nằm trên phần đường bên phải theo hướng Đắk Lắk đi Lâm Đồng, cách mép đường chuẩn (mép đường bên trái) là 608cm.

Kết quả thực nghiệm điều tra cho thấy với tốc độ 60km/h, ở khoảng cách 22m50cm, Y D nhìn thấy bóng mờ của Y Lak Pang T đang ngồi lết trên đường Q, nhưng không dừng xe mà vẫn tiếp tục điều khiển với tốc độ 60km/h; khi Y D điều khiển xe môtô cách ông Y Lak P3 Ting khoảng 10m80cm, cùng với đèn chiếu sáng từ nhà của ông Đào Đăng K1 và đèn xe môtô của Y D thì khoảng cách này Y D nhìn thấy rõ nhất ông Y Lak Pang T đang ngồi lết cùng chiều trên đường Q.

2

Trường hợp tất tật cả các độ đường chiếu sáng chỉ để lại đèn nhà của ông Đào Đăng K1. Y D chạy xe môtô với tốc độ 60km/h đến vị trí nhìn thấy xe ôtô tải (vị trí 70m), cách ông Y Lak P3 Ting khoảng 22m50cm, khoảng cách này Y D nhìn thấy bóng mờ Y L Pang T đang ngồi lết trên đường Q, nhưng không dừng xe mà tiếp tục điều khiển với tốc độ 60km/h; khi Y D điều khiển xe môtô cách ông Y Lak P3 Ting khoảng 10m80cm, cùng với đèn chiếu sáng từ nhà của ông Đào Đăng K1 và đèn xe môtô của Y D thì khoảng cách này Y D nhìn thấy rõ nhất ông Y Lak Pang T đang ngồi lết cùng chiều trên đường Q.

Để đảm bảo tính khách quan trong thực nghiệm điều tra, tiến hành cho ông Y Thái Đắk C là người dân sinh sống trong buôn Ba Y điều khiển xe môtô và chở Y D Buôn Krông ngồi phía sau, điều khiển với tốc độ 60km/h. Tiến hành thực hiện lại toàn bộ như lần 1 và lần 2 thì tầm nhìn quan sát của Y T4 khi điều khiển xe môtô và chở Y D ngồi phía sau xe môtô không hạn chế, vẫn nhìn thấy rõ Y L đang ngồi lết trên đường Quốc lộ 27 và giống với tầm nhìn quan sát tại thời điểm thực nghiệm hai lần trước.

Qua kết quả thực nghiệm cho thấy: Khi Y D điều khiển xe môtô BKS: 49C1-119.21, bật đèn chiếu gần, điều khiển xe môtô với tốc độ 60km/h đến vị trí nhìn thấy hình mờ nằm ngay cạnh theo ông Y Lak Pang T đang ngồi lết trên đường quốc lộ 27, vị trí khoảng cách giữa xe môtô Y D điều khiển với hình Mờ nằm cạnh là 22m50cm, thì khoảng cách này Y D đã nhìn thấy Y L đang ngồi lết trên đường quốc lộ 27; đến khoảng cách 10,80m thì Y D nhìn thấy rõ ông Y Lak Pang T ngồi lết trên đường quốc lộ 27.

Tại Bản kết luận giám định số 06/KLGĐTT-PY ngày 27/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của ông Y Lak Pang T là: Do chấn thương sọ não nặng/nhiều thương tích khác do tai nạn giao thông.

Tại kết luận giám định số: 63/KLLTCT-PY ngày 26/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y Dung Buôn Krông do thương tích gây ra tại thời điểm giám định là 28%.

Về vật chứng đã thu giữ và kết quả xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ gồm:

- 01 xe môtô BKS 49C1-119.21, màu đen, nhãn hiệu Yamaha, số khung: RLCUE37401LY072850, số máy: E32VE254261.

Về trách nhiệm dân sự:

Y Dung B và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường các khoản chi phí lo mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình người bị hại ông Y Lak Pang T do ông Y Nđong Pang T1 đại diện, với tổng số tiền là 12.000.000 đồng.

Đối với anh Y Phon T2 bị thương tích nhẹ, không đi điều trị nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố Y Dung Buôn Krông về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

3

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Y D Buôn Krông từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại chiếc xe mô tô BKS 49C1-119.21 cho Y Dung Buôn Krông.

Áp dụng Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Công nhận bị cáo Y Dung Buôn K2 đã thỏa thuận và bồi thường các khoản chi phí lo mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại tổng số tiền là 12.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Y Dung Buôn K2 đã khai nhận toàn bộ các tình tiết của vụ án như đã khai trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt.

Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức thấp nhất về hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với Cáo trạng, Luận tội về tội danh, các điều khoản áp dụng; các tình tiết giảm nhẹ; và phát biểu thêm: do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hơn nữa bị hại tham gia giao thông bằng cách lết đi trên đường nhưng lại không đi sát lề đường là nguyên nhân tiếp giáp dẫn đến sự hưởng ứng sự phán đoán, xử lý của bị cáo nên bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn giao thông; do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 và khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Y Dung Buôn K2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với dấu vết để lại hiện trường, trên phương tiện va chạm, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; từ đó có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 22h00’ ngày 06/12/2024, sau khi đã uống rượu với nồng độ cồn trong máu là 0.43g/l và không có giấy phép lái xe, Y Dung B đã điều khiển xe môtô mang BKS:

4

49C1-119.21 dung tích 110cm³ chở theo Y Phon T đi trên quốc lộ B, theo hướng từ Đắk Lắk về hướng Lâm Đồng. Đến Km80 + 320, quốc lộ B thuộc địa phận buôn B, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên xe môtô do Y D điều khiển đã va chạm từ phía sau vào người của ông Lak Pang T đang ngồi lết trên đường cùng chiều, phía trước làm ông Y Lak Pang T bị tử vong, Y Dung Buôn K2 bị thương tích tổn thương cơ thể với tỉ lệ 28%, Y Phon T2 bị thương tích nhẹ và xe môtô bị hư hỏng.

[3] Theo quy định tại khoản 1 Điều 58, khoản 2 Điều 59 Luật Giao thông đường bộ và Điều 16 tự 12/2017/TT-BGTVT thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải đáp ứng các điều kiện trong đó có điều kiện về giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển khi tham gia giao thông. Tiền hành thực hiện lại toàn bộ như lần 1 và lần 2 thì tầm nhìn quan sát của Y T4 khi điều khiển xe môtô và chở Y D ngồi phía sau xe môtô không hạn chế, vẫn nhìn thấy rõ Y L đang ngồi lết trên đường Quốc lộ 27 và giống với tầm nhìn quan sát tại thời điểm thực nghiệm hai lần trước.

Y Dung Buôn Krông không có giấy phép lái xe hạng A1 nhưng vẫn sử dụng xe mô tô BKS: 49C1-119.21 có dung tích 110cm³ là vi phạm về điều kiện tham gia giao thông. Hơn nữa, khi tham gia giao thông, Y Dung Buôn Krông trong tình trạng đã sử dụng rượu với nồng độ cồn trong máu là 0.43g/l là vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 9, khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ và khoản 6 Điều 5 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia.

Hành vi của Y D Buôn Krông gây ra hậu quả “làm chết một người” đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và với trường hợp “không có giấy phép lái xe”, “trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia” là các tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

...

Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, bị cáo phải biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ người tham gia giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác. Bị cáo không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô

5

tô có dung tích 110cm³ để tham gia giao thông; hơn nữa khi tham gia giao thông đã sử dụng rượu là đã vi phạm điều cấm; đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông với người đang lết trên đường làm nạn nhân ông Y Lak Pang T tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặc dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nhưng bị cáo đã tích cực bồi thường, khắc phục một phần hậu quả với tổng số tiền là 12.000.000 đồng nên được đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo thuộc hộ nghèo có hoàn cảnh gia đình khó khăn vì cha mất sớm, mẹ thường xuyên ốm đau, sức khỏe yếu, chị cả mắc bệnh ung thư, anh cả bị tai biến liệt nửa người không lao động được, ba người em của bị cáo đang trong độ tuổi chưa thành niên; bị cáo là chỗ dựa chính, luôn phải làm thuê, làm mướn theo mùa vụ để nuôi sống gia đình; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về phía bị hại, là người không đủ khả năng tham gia giao thông như người đi bộ bình thường, lẽ ra, với khả năng đi lại hạn chế, trong trường hợp cần thiết phải tham gia giao thông thì bị hại nên đi sát lề đường, mép đường theo quy tắc dành cho người đi bộ quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Ở thời điểm đêm, khuya tầm nhìn bị hạn chế, tư thế của bị hại lết đi trên đường ở vị trí cách mép đường 222cm là nguyên nhân gián tiếp khiến cho người điều khiển xe cơ giới có phần khó phán đoán, nhận diện ra người tham gia giao thông dẫn đến sự hạn chế trong xử lý của người điều khiển xe cơ giới để đảm bảo an toàn giao thông.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo ở khung hình phạt nhẹ hơn liền kề cùng đủ tác dụng cải tạo bị cáo và bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với tội phạm này.

[4] Về vật chứng: Chiếc xe môtô BKS 49C1-119.21 thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Văn B nhưng đã bán cho cửa hàng xe máy “NĂM ÚT” của anh Nguyễn Văn Ú; sau đó Y D đã mua lại chiếc xe này làm phương tiện đi làm thuê kiếm sống, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ nên cần trả lại cho chủ sở hữu Y Dung Buôn Krông là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại; không có yêu cầu bồi thường thêm nên Tòa án không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; tuy nhiên bị cáo thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Y D Buôn Krông phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Y D Buôn Krông 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại chiếc xe mô tô BKS 49C1-119.21 cho Y Dung Buôn Krông (đặc điểm, thông số kỹ thuật, tình trạng xe như mô tả trong “Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản” lập ngày 19/8/2024 tại Chi cục Thi hành án huyện Lắk).

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 591 của Bộ luật dân sự:

Công nhận bị cáo Y Dung Buôn K2 đã bồi thường cho gia đình bị hại Y Lak P3 Ting tổng số tiền là 12.000.000 đồng.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng được miễn nộp số tiền trên.

5. Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND H. Lắk;
  • - VKSND T. Đắk Lắk;
  • - Cơ quan Điều tra Công an H. Lắk;
  • - Cơ quan THAHS Công an H. Lắk;
  • - Chi cục THADS H. Lắk;
  • - T. Giám đốc Kiểm sát TAND T. Đắk Lắk;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Hưng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Y Dưng Buôn Krông 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger