|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày: 02/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Hoàng và bà Phạm Thị Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô tiến hành xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Xuân T (tên gọi khác: Tèo); sinh ngày 16/8/1993 tại tỉnh Kon Tum; nơi đăng ký HKTT: Thôn D, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Xuân M, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
- - Ngày 21/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Ngày 16/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 149 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 21/11/2016, bị cáo phải chấp hành hình phạt là 04 năm 09 tháng tù.
- - Ngày 22/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- - Ngày 20/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự:
không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/03/2024, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Anh Tạ Hùng T1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn A, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950. Có mặt
- - Chị Huỳnh Thị Xuân T2, sinh năm 1979. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 06/3/2024, Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô BKS 82H1-0711 đi đến rẫy dưa hấu của anh Tạ Hùng T1 tại Thôn D, xã D, huyện Đ. Đến nơi, T dùng một cà lê ống bằng kim loại hình chữ L (mang theo trong cốp xe mô tô) phá khóa cửa chòi rẫy vào bên trong chòi để ngủ. Vào trong chòi bị cáo thấy một cờ lê (loại cờ lê 17) nên nảy sinh ý định trộm cắp đầu bơm nước tại rẫy của anh T1. T men theo đường ống bơm nước đi tới khu vực cuối vườn dưa hấu của anh T1 (nơi đặt đầu bơm nước), T tháo tấm tôn bọc ở trên đầu bơm ra, dùng đầu vặn bằng kim loại chữ L phá khóa bảo vệ và dùng cờ lê 17 tháo ốc liên kết giữa đầu bơm nước với khung đế ra. Sau khi lấy được đầu bơm, T bỏ lên xe rồi chở về nhà của bà Nguyễn Thị Đ cất giấu tại chuồng heo cũ. Đầu bơm nước mà Huỳnh Xuân T trộm cắp là đầu bơm nước hiệu Văn Thể VT-5, có kích thước (40 x 17) cm, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 11/03/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị đầu bơm nước mà Huỳnh Xuân T trộm cắp trị giá 938.000 (Chín trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không đề cập.
- - Về vật chứng: Đã được CQCSĐT Công an huyện Đ xử lý trả lại cho anh T1 là đúng quy định nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 đầu vặn bằng kim loại hình chữ L (cờ lê ống) kích thước (19 x 18) cm, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, xét không làm ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Huỳnh Xuân T đã có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đều chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là đầu bơm nước của anh Tạ Hùng T1, trị giá là 938.000 đồng. Tuy tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, vì vậy Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.
Về định khung hình phạt đối với bị cáo:
Theo tinh thần tại điểm b mục 7.3 phần 1 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm”.
Tương tự, tham khảo tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” quy định tại khoản 1 các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự là trước đó người phạm tội đã bị kết án trong 01 lần về một hoặc nhiều tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 của một trong các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự
Trường hợp ngoài tiền án nêu trên, người phạm tội còn có tiền án khác thì tiền án này được sử dụng để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, trừ trường hợp các tiền án đều đã được sử dụng để xác định dấu hiệu định tội trong các lần kết án trước đó”.
Như vậy, lần phạm tội này, tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” là tình tiết định tội đối với bị cáo theo Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không sử dụng để xác định là “Tái phạm” hoặc “Tái phạm nguy hiểm”, còn tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phải được sử dụng để xem xét việc “Tái phạm” hay “Tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo.
Mặt khác, tại Bản án số 18/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô đã áp dụng tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” là tình tiết định tội, tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” làm tình tiết tặng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Các tình tiết đã được quy định là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Vì vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo phải bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp với nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo đã nhiều lần bị xét xử và chấp hành án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng mà lại liên tục phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải của bị cáo, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tình hình tội phạm ngày càng gia tăng hiện nay. Tuy nhiên, tài sản bị cáo trộm cắp dưới mức cấu thành cơ bản nhưng bị cáo lại bị xét xử ở khoản 2 của điều luật, vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng:
- - 01 đầu bơm nước hiệu Văn Thể (VT-5) kích thước (40 x 17) cm, được gắn với một ống nước dài 22cm.
- - 02 ổ khóa hiệu Việt Tiệp kích thước lần lượt là (6 x 9)cm, (5 x 7) cm.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 82H1-0711.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật nên không xem xét.
- - 01 đầu vặn bằng kim loại hình chữ L (cờ lê ống) kích thước (19 x 18)cm.
Xét thấy đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch nộp ngân sách nhà nước.
- - 01 chiếc cờ lê 17 màu bạc, bằng kim loại một đầu hình tròn và một đầu hình chữ U để thực hiện hành vi trộm cắp, sau đó bị cáo làm rơi tại khu vực Thôn D, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng tuy nhiên không truy tìm được nên không có cơ sở xem xét.
[8] Đối với bà Nguyễn Thị Đ là chủ nhà mà bị cáo đem đầu bơm nước trộm cắp được đến cất giấu, quá trình điều tra cho thấy T thường xuyên đến nhà bà Đ chơi và ngủ nhờ, bà Đ không biết việc T trộm cắp tài sản và đem cất giấu tại nhà của bà nên không xem xét.
Đối với chị Huỳnh Thị Xuân T2 là người cho bị cáo mượn xe mô tô BKS 82H1-0711 nhưng không biết việc bị cáo mượn xe và sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T (Tên gọi khác: T3) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (08/3/2024).
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) đầu vặn bằng kim loại hình chữ L (cờ lê ống) kích thước (19 x 18)cm tình trạng đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Tô).
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Huỳnh Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/8/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Huy |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Xuân Tiến tội “Trộm cắp tài sản”
