|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HSST-NCTN Ngày: 31 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hoàng;
Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thái - Cán bộ hưu trí.
- Ông Trần Quang Đạt - Cán bộ hưu trí.
Ông Đặng Minh Nhựt - Giáo viên trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tần – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc An - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Trần Quốc Đ; tên gọi khác: Anh H; giới tính: Nam; sinh ngày 28/10/2000; nơi đăng ký thường trú: Khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện nay: Khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; cha: Trần Quốc N, sinh năm 1979 và mẹ: Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1982; có 02 em; vợ: Nguyễn Mỹ Đ, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. nhân thân: Ngày 29/12/2017 bị Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 02/10/2023 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi gây mất an ninh trật tự công cộng, ngày 22/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa tỉnh Phú Yên xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ; bắt tạm giam ngày 06/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thái A; tên gọi khác: An Trọc; giới tính: Nam; sinh ngày 27/3/2007; nơi cư trú: Thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn K, sinh 1984 và bà Nguyễn Thị Thu Bình s 1985; có 01 em; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/10/2023 bị Công an huyện P phạt Cảnh cáo về hành vi gây mất an ninh trật tự công cộng, ngày 26/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 31/01/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định khởi tố bị can về tội Cố ý gây thương tích; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Đ1; có mặt tại phiên tòa.
-
Phạm Kỳ P; tên gọi khác: B1; giới tính: Nam; sinh ngày 10/10/2004; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện nay: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Phạm Kỳ C, sinh 1979 và bà Nguyễn Thị Anh K1, sinh 1991; có 01 em; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/4/2023, Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên phạt 400.000 đồng về hành vi gây mất trật tự công cộng; nhân thân: Ngày 02/10/2023 bị Công an huyện P phạt 1.500.000 đồng về hành vi gây mất an ninh trật tự công cộng; bắt tạm giam ngày 26/9/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt tại phiên tòa.
-
Phạm Kỳ Q; tên gọi khác: Bon; giới tính: Nam, sinh ngày 29/8/2006; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Phạm Kỳ C, sinh 1979 và bà Nguyễn Thị Anh K1, sinh 1991; có 01 anh; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 26/9/2023 đến ngày 01/02/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; bảo lĩnh từ ngày 01/02/2024 đến ngày 03/3/2024; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/3/2024; tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc Đ: Có ông Trần Ngọc Q1 – Luật sư Văn phòng L thuộc đoàn luật sư tỉnh P; (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái A: Có ông Ngô Văn T – Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Kỳ P: Có bà Huỳnh Thị T1 – Luật sư văn phòng L1 thuộc đoàn Luật sư tỉnh P (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Kỳ Q: Có ông Ngô Thiện P1 – Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P; (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thái A: Ông Nguyễn Văn K, sinh 1984 và bà Nguyễn Thị Thu B2, sinh 1985; nơi cư trú: Thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt tại phiên tòa (Bà B2 có mặt, ông K vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Kỳ Q: Ông Phạm Kỳ C, sinh 1979 và bà Nguyễn Thị Anh K1, sinh 1991; nơi cư trú: Thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; (ông C có mặt, bà K1 vắng mặt).
- Người bị hại: Lê Phúc T2, sinh 1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Nguyễn Mỹ Đ, sinh 1999; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Trần Quốc N, sinh 1979; nơi cư trú: Khu phố P, phường I, thành phố T, Phú Yên; có mặt.
-
Nguyễn Thị T3, sinh 1979; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
-
Ông Phạm Kỳ C, sinh 1979 và bà Nguyễn Thị Anh K1, sinh 1991; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, Phú Yên; (ông C có mặt, bà K1 vắng mặt).
-
Ông Nguyễn Văn K, sinh 1984; nơi cư trú: Thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Bà Nguyễn Thị Thu B2, sinh 1985; nơi cư trú: Khu phố P, phường I, thành phố T, Phú Yên; có mặt.
-
Ông Manh Thành T4, sinh 1973; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Ông Nguyễn Hoài N1, sinh 1999; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Người làm chứng:
-
Lê Trung T5, sinh: 1998; nơi cư trú: Khu phố P, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Mai Thị Kim Y, sinh 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Phan Ngọc Q2, sinh 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
-
Trần Ngọc T1 N2, sinh: 2005; nơi cư trú: Đường T, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ ngày 30/5/2023, Trần Quốc Đ đi nhậu về phòng trọ ở khu phố N, phường I, thành phố T nghe vợ là chị Nguyễn Mỹ Đ kể lại tối ngày 29/5/2023, Đ đi chơi gặp anh Lê Phúc T2, bị anh T2 trêu ghẹo đuổi về, nên bức tức gọi điện thoại cho H2 hỏi “sao mày đuổi vợ tao về, mày thích gì”. T2 trả lời “lúc tối say nên nói đùa với Đ”, biết anh T2 đang ở khách sạn M ở thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Đ rủ Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q, Nguyễn Thái A đến khách sạn M đánh anh T2 thì P, Q, A đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe mô tô chở P, Q điều khiển xe mô tô chở A đến khách sạn M. A nhặt con dao thái lan trước cổng khách sạn bỏ vào túi áo để đánh anh T2; thấy anh T2 ngồi nói chuyện với bạn ở sảnh lễ tân, Đ đến hỏi anh Thiên S1 chửi đuổi Đ và bảo T2 đến phòng trọ xin lỗi Đ. T2 không đồng ý Định dùng tay đánh vào mặt anh, anh T2 đứng dậy giằng co với Đ. A dùng dao thái lan đâm anh T2 nhiều cái anh Thiên n và dùng tay gạt làm lưỡi dao gãy; Đ kéo anh T2 ngã nằm dưới nền khách sạn, dùng tay đánh nhiều cái vào mặt anh T2; A, P, Q dùng chân đá, đạp vào đầu, mặt, cổ anh T2 làm anh T2 bất tỉnh; Đ lấy ghế dạng che xoay cao 1,1m, chân đế bằng kim loại đường kính 41cm, dày 0,6cm cầm hai tay đánh tên không trúng bụng anh T2 01 cái, Đ tiếp tục dùng ghế đánh thì P can ngăn không trúng; thấy anh T2 tay chân co giật miệng sùi bọt mép, Đ và A dùng chân đá vào đầu anh T2; Đ lấy mũ bảo hiểm đánh vào đầu anh T2 thì được mọi người can ngăn; Đ ném mũ bảo hiểm vào người anh T2 và dùng chân đạp vào mặt anh T2; A ném cán dao vào người anh T2 rồi tất cả bỏ đi, anh T2 được mọi người đưa đến Bệnh viện tỉnh P cấp cứu và điều trị.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 191 ngày 02/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tại thời điểm giám định anh Lê Phúc T2 bị tụ máu dưới nền thái dương trái và nhiều vết thương phần mềm tổng tỷ lệ thương tích 22%, do vật tày và vật có cạnh gây ra.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSPY-P1 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q về tội Giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đều trình bày và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q về tội Giết người.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q; Riêng Trần Quốc Đ cần áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 15, 91, khoản 1 Điều 101, khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đối với bị cáo Nguyễn Thái A và Phạm Kỳ Q đề nghị Hội đồng xét xử: Phạt Trần Quốc Đ 09 đến 10 năm tù, tổng hợp bản án số: 01/2024/HSST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa phạt bị cáo 01(Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “chống người thi hành công vụ”; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án; phạt Nguyễn Thái A 05 đến 06 năm 06 tháng tù, tổng hợp bản án của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa phạt bị cáo 05 năm 06 tháng tù, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án; phạt Phạm Kỳ P 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; phạt Phạm Kỳ Q 03 năm đến 04 năm tù.
Về phần dân sự:
Bị cáo Phạm Kỳ Q3 và Phạm Kỳ P mỗi bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 30.000.000đ; bị cáo Trần Quốc Đ đã bồi thường cho người bị hại 20.000.000đ; bị cáo Nguyễn Thái A1 đã bồi thường cho người bị hại 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A và người đại diện hợp pháp của bị cáo A và người bị hại thỏa thuận số tiền bồi thường, bị cáo Đ tiếp tục bồi thường cho người bị hại 20.000.000đ, bị cáo A tiếp tục bồi thường cho người bị hại 15.000.000đ, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu xung quỹ nhãn hiệu Honda số 78E1-550.42, số loại Wave Alpha, màu sơn trắng bạc, số máy JA39E3111694, số khung RLHJA3926PY488969 kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đứng tên Phạm Kỳ Q và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đứng tên Phạm Kỳ Q; tuyên trả cho Lê Trung T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mặt lưng màu trắng không kiểm tra tình trạng bên trong; tuyên trả cho người bị hại Lê Phúc T2 01 điện thoại di động hiệu sam sung A12 mặt lưng màu xanh nước biển gắn số sim 0947750457; số vật chứng còn lại không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Thống nhất tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nhưng cho rằng mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là quá cao để nghị Hội đồng xét xử lưu ý và xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo ở mức án thấp nhất, những bị cáo không trực tiếp tham gia và có nhân thân tốt đề nghị không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội.
Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, các bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp và luật sư đều đồng ý đề nghị Tòa tiếp tục xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P và Phạm Kỳ Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 30/5/2023, tại khách sạn M ở thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, Trần Quốc Đ rủ Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q, Nguyễn Thái A đánh anh Lê Phúc T2. A dùng dao thái lan đâm; Đ, P, Q, A dùng tay đánh, dùng chân đá, đạp nhiều cái vào đầu, mặt, cổ của anh T2 làm anh T2 bất tỉnh; Đ tiếp tục dùng ghế kim loại, mũ bảo hiểm, đánh vào bụng, đầu rồi cùng A dùng chân đá, đạp vào đầu của anh T2. anh T2 không chết là nằm ngoài ý thức của Đ, P, Q, A nhưng bị thương tích tỷ lệ 22%.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung hình phạt phạm tội có tính chất côn đồ, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm, đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội nhất là các bị cáo có nhân thân xấu, nhưng cần khoan hồng đối với các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhưng khi lên hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
[4.1] Bị cáo Trần Quốc Đ là người rủ rê những người trong nhóm đi đánh người bị hại, trong đó có các bị cáo là người chưa thành niên nên phạm tội thuộc trường hợp xúi giục người chưa thành niên phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS là người trực tiếp dùng tay, ghế và mũ bảo hiểm đánh vào đầu người của T2, là người có nhân thân xấu bị phạt hành chính 02 lần và bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa phạt 01 năm 06 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ nên cần có mức án nghiêm, nhưng khi lên hình phạt cần xem xét các tình tiết: Thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại 20.000.000đ; có thời gian phục vụ trong quân đội; tại phiên tòa tự nguyện bồi thường tiếp cho người bị hại 20.000.000đ và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, cần áp dụng điểm b,s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án.
[4.2] Đối với bị cáo Nguyễn Thái A là người trực tiếp thực hiện hành vi dùng dao đâm người bị hại, cùng với bị cáo P, Q dùng chân đá, đạp vào đầu, mặt, cổ làm cho người bị hại bất tỉnh co giật nhưng vẫn tiếp tục đánh và bỏ mặc nạn nhân, là người có nhân thân xấu bị xử phạt vi phạm hành chính 01 lần; bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị Cơ quan CSĐT Công an T6 khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, nên cần có mức án nghiêm; nhưng khi lên hình phạt cần xem xét khi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi; thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục một phần hậu quả bồi thường cho người bị hại 2.000.000đ; tại phiên tòa đồng ý bồi thường tiếp cho người bị hại 15.000.000đ và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; cần áp dụng điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án.
[4.3] Bị cáo Phạm Kỳ P dùng tay chân cùng các bị cáo khác đánh anh T2 bất tỉnh nhưng khi thấy Đ đánh tiếp thì can ngăn, bản thân bị cáo có nhân thân xấu 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng; 01 tiền sự về hành vi gây mất trật tự công cộng, nên cần có mức án nghiêm nhưng bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại 30.000.000₫ được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cần áp dụng điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; Điều 54 khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4.4] Bị cáo Phạm Kỳ Q cùng tham gia gây thương tích dùng tay chân đánh vào đầu, cổ, mặt người bị hại cũng cần có mức án nghiêm, nhưng cần lưu ý các tình tiết lúc phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi; thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục cho người bị hại 30.000.000đ được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; để giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 91; Điều 101; Điều 102 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, người đại diện hợp pháp của bị cáo A và người bị hại thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại, bị cáo Đ tiếp tục bồi thường cho người bị hại 20.000.000đ; bị cáo A và người đại diện hợp pháp tiếp tục bồi thường cho người bị hại 15.000.000đ nên được ghi nhận.
[6] Về vật chứng vụ án: Cần chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa tịch thu xung quỹ 01 (một) xe mô tô biển số 78E1-550.42 nhãn hiệu Honda kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đứng tên Phạm Kỳ Q là phương tiện dùng vào việc phạm tội; trả lai hai chiếc điện thoại cho chủ sở hữu; một số vật chứng còn lại không có giá trị cần tich thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P, Phạm Kỳ Q phạm tội “Giết người”
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 1 Điều 54; Điều 56; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Phạt: Bị cáo Trần Quốc Đ 08 (tám) năm tù; Tổng hợp bản án số: 01/2024/HSST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa phạt bị cáo 01(Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “chống người thi hành công vụ”; Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là: 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/6/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 91, 101, 102 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Thái A 05 (năm) năm tù; Tổng hợp bản án số: 29/2023/HSST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (S) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy”; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 10 (mười) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 10/7/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Phạt: Bị cáo Phạm Kỳ P 03(ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 26/9/2023.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 91;101;102 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Phạm Kỳ Q 02 (Hai) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 26/9/2023 đến ngày 01/02/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo tại phiên tòa.
Buộc bị cáo Trần Quốc Đ bồi thường tiếp cho bị hại anh Lê Phúc T2 20.000.000đ; bị cáo Nguyễn Thái A bồi thường tiếp cho bị hại anh Lê Phúc T2 15.000.000đ về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Bị cáo Nguyễn Thái A khi phạm tội đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi phải bồi thường bằng tài sản của mình nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ của bị cáo A là ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thu B2 phải bồi thường cho người bị hại.
Bị hại được nhận số tiền các bị cáo bồi thường trước là Trần Quốc Đ số tiền 10.000.000 đồng nộp tại biên lai thu tiền số 0003930 ngày 24/01/2024 và Nguyễn Thái A số tiền 2.000.000 đồng nộp tại biên lai thu tiền số 0003916 ngày 11/01/2024 của Cục thi hành án tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Tuyên tịch thu xung quỹ 01 (một) xe mô tô biển số 78E1-550.42 nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn trắng bạc, số máy JA39E3111694, số khung RLHJA3926PY488969 kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 78000117 mang tên Phạm Kỳ Q.
T4 trả cho Lê Trung T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone mặt lưng màu trắng không kiểm tra tình trạng bên trong; tuyên trả cho người bị hại Lê Phúc T2 01 điện thoại di động hiệu sam sung A12 mặt lưng màu xanh nước biển gắn số sim 0947750457.
T4 tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái ghế xoay, loại ghế có lưng tựa, mặt ghế có viền khung kim loại ốp nhựa lưới màu đen có kích thước (38x36)cm phần lưng tựa cao 30cm, ghế có một chân bằng kim loại hình trụ tròn cao 0,8m đường kính 0,6m kim loại bên ngoài là 18cm, đường kính ống kim loại bên trong là 15,5cm, phần đế bằng kim loại hình tròn có đường kính 41cm, dày 0,6cm; 01 (một) cán dao bằng nhựa màu vàng dài 9,5cm, rộng 02cm, dày 0,7cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, rộng 1,7cm, dày 0,1cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh có đường kính 21cm, sâu 14cm, mặt trong đệm mút có ghi dòng chữ “Mũ.KS” màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, có điểm phía trước, đường kính 19,5cm, sâu 13cm, mặt trước mũ có ghi dòng chữ “vespa” màu trắng, mặt sau mũ có ghi dòng chữ “Tấn Lộc helmet”. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Quốc Đ, Nguyễn Thái A, Phạm Kỳ P và Phạm Kỳ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Trần Quốc Đ phải chịu 1.000.000đ; Nguyễn Thái A và người đại diện hợp pháp Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị Thu B2 phải chịu 750.000đ.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Hoàng |
Bản án số 13/2024/HSST-NCTN ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về giết người
- Số bản án: 13/2024/HSST-NCTN
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Đ và đồng phạm phạm tội Giết người
