|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Tú
- - Ông Chu Vinh Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ: sinh ngày: 28/11/1974, tại huyện Ứ, TP .; Thường trú: thôn G, xã Đ, huyện Ứ, TP .; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết), con bà: Lưu Thị V; Vợ: Lưu Thị H, con: có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 13/8/2024 nay. Hiện đang tại ngoại; Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
- + Anh Bùi Văn X, sinh năm: 1970.
Nơi cư trú: thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Lỷ A N1, sinh năm: 1997
Nơi cư trú: bản S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Chị Quàng Thị P, sinh năm 2005. Nơi cư trú: xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, Nguyễn Văn Đ (có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 29E2-123.85 chở ông Bùi Văn X chạy hướng H - M. Khi đi đến đoạn Km 228+900, quốc lộ A thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Đ điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường bên trái để sang đường. Do thiếu quan sát, không nhường đường cho xe đi từ phía ngược chiều đến nên khi xe của Đ đi đến giữa phần đường bên trái thì va vào xe mô tô BKS 14T2-4023 do anh L A N1 điều khiển chở chị Quàng Thị P chạy ngược chiều đến. Hậu quả: ông X bị thương tích tổn hại 77% sức khỏe; anh N1 bị tổn hại 06% sức khỏe, xe mô tô BKS 14T2-4023 và xe mô tô BKS 29E2-123.85 bị hư hỏng thiệt hại lần lượt là 356.000 đồng và 494.000 đồng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 21/6/2024 tại Km 228+900, Quốc lộ A thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng nằm trong khu vực đông dân cư, có chiều rộng 11m, phần đường bên phải theo chiều M - H rộng 5,5m, đường hai chiều chạy dọc theo hướng Bắc – N. Hướng B1 đi M, hướng N đi H, hướng Tây tiếp giáp với nhà dân, hướng Đ đi thị trấn Đ. Mặt đưởng trải nhựa, bằng phẳng khô ráo, giữa đường có vạch kẻ sơn đứt đoạn màu vàng phân chia các chiều đường xe đi. Lấy cột mốc Km 228+900 làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải hướng M - H làm chuẩn. Ghi nhận vị trí các dấu vết, phương tiện như sau:
- Vị trí số 1: Vết phanh đơn trên mặt đường có bám dính chất bột màu đen, có chiều hướng từ Bắc sang N, kích thước (KT) (1x0,02)m, điểm đầu vết cách điểm mốc là 27m, cách mép chuẩn là 3,1m. Điểm cuối vết cách mép chuẩn là 3,3m, cách đầu vết số 2 là 2,9m.
- + Vị trí số 2: Vết cày xước trên mặt đường có KT (2,2x0,02)m hướng từ Bắc sang N, điểm đầu vết cách mép chuẩn là 3,3m, cuối vết trùng với giá để chân của xe mô tô biển số 14T2-4023 và cách mép chuẩn là 4,4m.
- + Vị trí số 3: Đám mảnh vỡ nhựa trên bề mặt đường có KT (2,5x1,3)m. T vùng vỡ cách mép chuẩn là 03m, cách cuối vết số 2 là 2,1m, cách trục trước xe mô tô biển số 14T2-4023 là 1,2m.
- + Vị trí số 4: Xe mô tô biển số 14T2-4023 nằm đổ nghiêng bên trái theo hướng M - H, đầu xe quay về hướng Tây, đuôi xe quay về hướng Đông. Khoảng cách từ tâm trục lốp trước đến mép chuẩn là 3,8m, cách đầu vết số 5 là 1,4m, trục sau cách mép chuẩn là 05m.
- + Vị trí số 5: Vết cày xước trên mặt đường có KT (0,26x0,01)m hướng từ Bắc sang Nam trên bề mặt bám dính chất bột màu trắng, điểm đầu vết cách mép chuẩn 3,9m, điểm cuối vết cách mép chuẩn là 3,85m, cách trục bánh trước xe mô tô biển số 29E2-123.85 là 1,1m.
- + Vị trí số 6: Xe mô tô biển số 29E2-123.85 nằm đổ nghiêng bên trái theo hướng M - H, đầu xe quay về hướng Tây, đuôi xe quay về hướng Đông. Khoảng cách từ tâm trục lốp trước đến mép chuẩn là 3,2m, khoảng cách từ tâm trục lốp sau đến mép chuẩn là 4,5m, cách tâm vùng vết số 7 là 2,4m.
- + Vị trí số 7: Đám máu có KT (2x1,1)m, tâm đám máu cách mép chuẩn là 4,8m.
Khám xe mô tô BKS 29E2-123.85, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, màu cam-đen-bạc: Cánh yếm ngoài bên phải bung bật, vỡ KT (24x6)cm, trên có vết trượt màu đen KT (35x2)cm, hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Cánh yếm trong bên phải vỡ KT (33x6)cm, bung bật, đẩy dồn từ phải qua trái. Đầu chắn bùn trước bị đẩy dồn từ phải sang trái, có vết mài xước KT (5x0,6)cm, phía bên trái chắn bùn trước mài xước KT (8x5)cm, đều có hướng từ trước về sau. Ngoài ra, một số bộ phận bên phải như ốp lốc máy, giá để chân trước, đầu tay nắm có vết mài trước, đẩy dồn, đều có hướng từ trước về sau.
Khám xe mô tô BKS 14T2-4023, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen-bạc: Phanh tay bên phải không hoạt động. Càng xe bị đẩy dồn từ trước về sau, từ phải sang trái. Cánh yếm ngoài bên trái vỡ dài 22cm, bung bật khỏi vị trí ban đầu. Đầu chắn bùn bánh trước bị đẩy dồn từ phải sang trái, ép sát bánh xe, vỡ KT (12x3)cm. Lốp bánh trước hết hơi, rách KT (3x1,5)cm. Đầu giảm xóc trước bên phải lõm móp KT (2x1)cm, hướng từ trước về sau. Cánh yếm trong bên phải vỡ KT (60x17)cm. Đầu tay nắm bên trái mài xước cao su KT (3x1)cm, hướng từ trước về sau. Đầu giá để chân trước bên trái rách cao su KT (3x1)cm, mài xước kim loại KT (1x0,5)cm, hướng từ trái qua phải.
Tại các bản kết luận giám định số 598/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2024 và số 705/KLTTCT-TTPY ngày 31/7/2024 của Trung tâm P1 Sở Y, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lỷ A, Bùi Văn X tại thời điểm giám định lần lượt là là 06% và 77%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Đ, kết luận: Thiệt hại của xe mô tô BKS 29E2-123.85 và xe mô tô BKS 14T2-4023 lần lượt là: 494.000 và 356.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nên trên. Ngoài ra, Đ còn khai khi bắt đầu chuyển hướng, Đ đã quan sát thấy phía trước ở phần đường bên trái có xe mô tô đi ngược chiều đến với tốc độ nhanh, cách xe của bị can khoảng 40-50m, nhưng do chủ quan nên Đ không dừng lại nhường đường mà bật đèn xi nhan trái rồi chuyển hướng với tốc độ chậm để sang đường.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn Đ đã bồi thường cho bị hại là ông Bùi Văn X số tiền 10.000.000 đồng, ông X có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ. Anh Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu xe mô tô BKS 29E2-123.85 và người bị hại Lỷ A N1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Xử lý vật chứng: Xe mô tô mang BKS 14T2-4023 thuộc sở hữu của anh Lỷ A N1 cùng các giấy tờ liên quan đã chuyển cho Phòng C Công an tỉnh Q để xử lý vi phạm hành chính đối với anh N1 về hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định.
- + Đối với xe mô tô, hiệu HONDA WAVE A, lốc máy có chữ HONDA, có số máy HC12E-7042358, số khung: RLHHC1250FY042560 gắn BKS 29E2-123.85, Nguyễn Văn Đ mượn của con trai là anh Nguyễn Văn T1. Anh T1 khai mua xe của một người không rõ nhân thân lai lịch. Qua tra cứu số khung, số máy là xe mô tô đăng ký BKS 29Y5-35356 của chủ sở hữu là ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1976, trú tại đội 10, xã T, huyện T, TP ., bị mất trộm khoảng tháng 6/2016. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển xe mô tô gắn BKS 29E2-123.85 đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện T, TP . để giải quyết theo thẩm quyền.
- + Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Đ chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 605/CT-VKSĐH ngày 11/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, không khiếu nại thắc mắc gì về kết luận giám định, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại là anh Bùi Văn X vắng mặt tại phiên toà, tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt có quan điểm: anh đã được bồi thường về phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Lỷ A N1 vắng mặt tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt có quan điểm: anh không yêu cầu gì bồi thường về mặt sức khỏe, tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 tại phiên toà có quan điểm không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe mô tô của anh cho bị cáo mượn.
Người làm chứng là chị Quàng Thị P có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Văn ĐĐông giấy phép lái xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Bị hại anh Bùi Văn X, Lỷ A có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng chị Quàng Thị P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về chứng cứ xác định có tội:
Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm, phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện nên có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại Km 228+900, quốc lộ A thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn Đ (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS 29E2-123.85 chở ông Bùi Văn X đi theo hướng H - M. Do chuyển hướng xe sang phần đường bên trái không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều đến, nên đã gây tai nạn cho xe mô tô BKS 14T2-4023 do anh L A N1 điều khiển chở chị Quàng Thị P đi ngược chiều. Hậu quả: ông X tổn thương cơ thể 77%; anh N1 bị tổn thương 06% cơ thể, xe mô tô BKS 14T2-4023 và xe mô tô BKS 29E2-123.85 bị hư hỏng trị giá lần lượt là 356.000 đồng và 494.000 đồng.
Hành vi điều khiển xe mô tô chuyển hướng xe sang phần đường bên trái không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều đến nên gây tai nạn giao thông gây thương tích cho người khác tổng tổn thương cơ là thể 83% của Nguyễn Văn Đ đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Điều 15. Chuyển hướng xe
“1) ...
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và lưu thông của các phương tiện trên đường, ảnh hưởng đến sức khoẻ và tài sản của người tham gia giao thông được pháp luật bảo vệ. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế, phương tiện tham gia giao thông tăng cả về số lượng và chủng loại, vì thế người tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn giao thông. Trong lúc tình hình tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, Nhà nước đã có chủ trương yêu cầu các cơ quan chức năng tuyên truyền cảnh báo đến mọi người dân cần nêu cao tinh thần chấp hành Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường. Hành vi bị cáo thực hiện do lỗi vô ý. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm nhưng vẫn chủ quan với hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà đã truy tố.
Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a, ......
c, G thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%”.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có con trai là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn trên lĩnh vực giao thông đường bộ, hậu quả làm cho người khác bị thương tích, tổng tổn thương cơ thể 83%, gây hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Để đấu tranh phòng chống tội phạm trên lĩnh vực giao thông, góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt phù hợp để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét bị cáo và bị hại là thông gia với nhau. Sau khi tai nạn sức khỏe bị cáo cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Bản thân bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật tốt, có nơi cư trú rõ rang. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ sức giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
[5] Về dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự, nên hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: Xe mô tô mang BKS 14T2-4023 thuộc sở hữu của anh Lỷ A N1 cùng các giấy tờ liên quan đã chuyển cho Phòng C Công an tỉnh Q để xử lý vi phạm hành chính đối với anh N1 về hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Đối với xe mô tô, hiệu HONDA WAVE A, lốc máy có chữ HONDA, có số máy HC12E-7042358, số khung: RLHHC1250FY042560 gắn BKS 29E2-123.85, Nguyễn Văn Đ mượn của con trai là anh Nguyễn Văn T1. Anh T1 khai mua xe của một người không rõ nhân thân lai lịch. Qua tra cứu số khung, số máy là xe mô tô đăng ký BKS 29Y5-35356 của chủ sở hữu là ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1976, trú tại đội 10, xã T, huyện T, TP ., bị mất trộm khoảng tháng 6/2016. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển xe mô tô gắn BKS 29E2-123.85 đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện T, TP . để giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bằng lái xe mô tô của Nguyễn Văn Đ là tài sản của Đ nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự huỷ: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 25/LCCT-TA ngày 13/11/2024, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 25/QĐ-TA ngày 13/11/2024 đối với Nguyễn Văn Đ của Toà án nhân dân huyện Đầm Hà.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 giấy phép lái xe số AT379058, hạng A1 do Sở G1 cấp ngày 28/10/2011 (Giấy phép lái xe đang lưu tại hồ sơ vụ án và được Toà án trả lại cho bị cáo tại phiên toà).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Báo cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Tuấn Anh |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
