|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày: 13-6-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Pha.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử và bà Nguyễn Vũ Yến.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Y Dung, Kiểm sát viên.
Vào ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 29/5/2024 đối với bị cáo:
Lê Thành T, sinh ngày 17/7/1987 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Lê Văn B, sinh năm 1956 và mẹ: Phan Thị M, sinh năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị Út T1, sinh năm 1994; Con: 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hồ Tiên C, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Ông Lê Văn N, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 05/01/2024, Lê Thành T gọi điện hỏi anh Hồ Tiên C (anh C là nhân viên giám sát nông vụ Công ty TNHH C1 làm việc tại Trạm nông vụ xã S, huyện S có nhiệm vụ cấp lệnh điều các xe ô tô tải chở mía về nhà máy Đ, thị trấn C, huyện S) về việc có mía chở không, anh C trả lời “có mía trên xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai em chạy xe lên đó chờ, khi nào xe khác bốc mía xong thì tới lượt em bốc mía”. Sau đó T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 78C-054.71 đến xã Đ chờ mà không có ai gọi để bốc mía, T gọi điện cho anh C nhiều lần nhưng C không nghe điện thoại vì bận công việc “ làm lệnh nhập mía”. T chờ đến chiều tối cùng ngày và tiếp tục gọi điện nhưng anh C cũng không nghe điện thoại. T điều khiển xe ô tô chạy về dừng trước trạm nông vụ tại thôn T, xã S, huyện S, lúc này khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày, T thấy anh C đang ngồi làm việc trong Trạm nông vụ. T lấy 01 ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm trên xe ô tô cầm trên tay phải, bước xuống xe đi đến chỗ anh C đang ngồi, đánh liên tiếp 03 phát vào người anh C, gây thương tích vùng vai phải, gò má phải, ngón tay phải và vùng ngực. Được mọi người can ngăn T bỏ đi, anh C được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh P.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người số 49/KLTTCT-PY ngày 08/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Hồ Tiên C tại thời điểm giám định là: 16%. Vật tác động: Vật tày có cạnh.
Về dân sự: Bị cáo Lê Thành T đã tự nguyện bồi thường 7.933.000 đồng. Bị hại Hồ Tiên C không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường.
Vật chứng vụ án: Tạm giữ chờ xử lý 01 ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm, một đầu bị móp có cạnh.
Cáo trạng số: 13/CT-VKS-HS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà truy tố Lê Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Lê Thành T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà đã truy tố và khẳng định không bị oan. Hình phạt: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Hồ Tiên C đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật và không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường gì thêm.
Kiểm sát viên tiến hành tố tụng tại phiên tòa sau khi phân tích mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
- Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm, một đầu bị móp có cạnh vì không còn giá trị sử dụng.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án và tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.
[2] Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại vật chứng vụ án thu giữ được cùng các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 05/01/2024, tại thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên, Lê Thành T dùng ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm là hung khí nguy hiểm đánh vào vai phải, gò má phải, ngón tay phải và vùng ngực của Hồ Tiên C gây thương tích với tỷ lệ 16%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội sẽ gây nguy hiểm đến sức khoẻ của người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của công dân được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải về việc làm của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường đủ 7.933.000 đồng theo yêu cầu của bị hại ngoài số tiền này bị hại không yêu cầu gì khác. Bị cáo phạm tội lần đầu có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại xác nhận sự việc xảy ra vào lúc 09 giờ 00 phút sáng ngày 05/01/2024 bị hại có hứa là có mía và bảo bị cáo từ thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên chạy xe lên xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai để bốc mía lên xe. Bị cáo đã cho xe đến nơi và đã điện thoại nhiều lần nhưng không liên lạc được với bị hại. Đến chiều tối, khoảng 18 giờ 30 phút, bị cáo cũng không liên lạc được với bị hại để được lệnh cấp mía chở về nhà máy nên bị cáo cho xe không trở về. Bị cáo quá bức xúc vì chờ đợi thời gian lâu mà không liên lạc được để cấp lệnh chở mía về, phải quay xe về, gây tốn kém thời gian và thiệt hại xăng nhớt nên bị cáo tức giận, nóng vội vào đánh bị hại. Do đó xét thấy bản chất của vụ án có phần lỗi của bị hại đã không theo dõi, liên lạc lại cho đúng hẹn theo giao ước như trên với bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
[6] Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm, một đầu bị móp có cạnh vì không còn giá trị sử dụng (Vật chứng có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa).
[7] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thành T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Thành T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người bị kết án Lê Thành T cố ý vi phạm 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người bị kết án Lê Thành T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Dân sự: Không xét.
- Vật chứng: Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 ống tuýp sắt tròn dài 54cm, đường kính 2,2cm, một đầu bị móp có cạnh (Vật chứng có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa).
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Pha |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T phạm tội "Cố ý gây thương tích"
