TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 13/2024/HS-PT Ngày 16 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Hoài Thủy.
Các Thẩm phán:
ông Lê Hồng Quang;
ông Trần Việt Trung.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 19/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Hữu P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Hữu P, sinh ngày 29/10/1999 tại Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hữu D (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1977; trú tại: khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vợ chưa có nhưng sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Hoài P1 có 01 con 01 tháng tuổi.
Tiền án: Ngày 30/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS. Ngày 16/11/2021, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân:
+ Ngày 21/12/2017: Bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Kinh doanh hàng hóa nhập lậu”. Đã thi hành.
+ Ngày 17/01/2022: Bị Ủy ban nhân dân huyện H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Kinh doanh hàng hóa nhập lậu”. Đã thi hành.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Trương Như H, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn An K, sinh năm 1994, địa chỉ: khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1977, trú tại: khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị Hoài P1, sinh năm 2000, địa chỉ: khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
+ Anh Đặng Ngọc H1, sinh năm 2004; địa chỉ: khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Anh Mai Thanh T, sinh năm 2007; địa chỉ: khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
+ Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1989; trú tại: khu phố A, Phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 06/6/2023, Hoàng Hữu P mượn xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 74F9 – 9030 của Nguyễn Thị Hoài P1 (trú tại: khu phố T, Phường A, thành phố Đ) để đi thuê xe ô tô đi chơi. P điều khiển xe mô tô đến cơ sở cho thuê xe tự lái Hoàng H2 ở địa chỉ số F đường N (thuộc khu phố H, Phường E, thành phố Đ) do anh Trương Như H làm chủ để thuê xe. Tại đây, P nói với anh H là thuê xe để đi chơi thì anh H đồng ý. Hai bên lập hợp đồng cho thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển kiểm soát 74A-148.18 trong thời gian từ 14 giờ 30 phút ngày 06/6/2023 đến 07 giờ 00 phút ngày 07/6/2023, P đã trả trước số tiền thuê xe là 500.000 đồng và gửi lại chiếc xe mô tô ở nhà anh H.
Sau khi thuê xe ô tô, P gọi điện rủ P1 và Mai Thanh T (trú tại: Phường E, thành phố Đ) đi chơi. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, P điều khiển xe đến đường H thuộc khu phố A, Phường E, thành phố Đ để chở P1 và T. Tiếp đó, P điều khiển xe
đến nhà của Đặng Ngọc H1 (trú tại: khu phố T, Phường A, thành phố Đ) để đón H1 rồi chở theo mọi người đi vào thị xã Q để ăn uống. Trong lúc ngồi ăn uống, P nảy sinh ý định mang chiếc xe ô tô vừa thuê của anh H đi thế chấp mượn tiền. P liên lạc với anh Lê Thanh T1 (trú tại: khu phố A, Phường A, thị xã Q) hỏi mượn tiền nhưng không có nên T1 liên lạc với Nguyễn An K (trú tại: khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị) nói là có P muốn mượn tiền thì K đồng ý. T1 gọi điện thoại cho P nói đến quán nước ở phía Bắc cầu T để gặp K mượn tiền. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, P điều khiển xe đến điểm hẹn gặp K. Tại đây, P nói muốn mượn anh K số tiền 100.000.000 đồng để giải quyết công việc và sẽ để lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển kiểm soát 74A-148.18 của gia đình nên anh K đồng ý. Anh K yêu cầu P viết 01 giấy vay mượn tiền và để lại thẻ căn cước công dân của P. P giao xe và nhận tiền từ anh K, anh K điều khiển xe đến Trường mầm non cũ (đường N khu phố A, Phường A, thị xã Q) cất giữ.
Sau khi giao xe cho anh K, P nói với T và H1 là bận việc nên T với H1 đón xe ra lại Đ, P cùng với P1 đón xe khách vào thị trấn T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến chiều ngày 07/6/2023, P nhắn tin cho anh H với nội dung là có việc đột xuất đi Huế hẹn đến ngày 08/6/2023 sẽ trả xe. Sau đó, do lo sợ anh H đòi xe nên P cắt liên lạc với anh H. Số tiền có được sau khi thế chấp chiếc xe ô tô P đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios 1.5E, màu trắng, biển kiểm soát 74A-148.18, số khung RL4B28F38M5114826, số máy 2NRX710069, trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 476.850.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 Toà án nhân dân thành phố Đông Hà đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Hữu P 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/10/2023.
Ngày 26/03/2024, bị cáo Hoàng Hữu P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 09 (chín) năm tù là quá nặng so với hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra để sớm kết thúc vụ án; bị cáo đã bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình có hoàn cảnh neo đơn, bản thân là lao động chính trong gia đình.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Hữu P giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Hữu P phù hợp với quy định tại các Điều 331, 333 BLTTHS về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình:
Ngày 06/6/2023 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Hoàng Hữu P đã đến cơ sở thuê xe ô tô do anh Trương Như H làm chủ thuê xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS 1.5E, màu trắng, biển kiểm soát 74A-148.18 để đi chơi. Hai bên đã xác lập một hợp đồng thuê xe trong thời hạn 01 ngày với giá 500.000 đồng. Do cần tiền tiêu xài nên P đã thông qua anh Lê Thanh T1 liên hệ với anh Nguyễn An K vay số tiền 100.000.000 đồng và để lại chiếc xe ô tô trên để làm tin. Số tiền trên P đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và trả nợ.
Tại bản kết luận định giá chiếc xe ô tô mà bị cáo chiếm đoạt là 476.850.000 đồng. Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 175 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo thực sự có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo mất sớm, mẹ bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác, bị cáo chung sống như vợ chồng với người khác và có con nhỏ mới sinh, bị cáo lại là lao động chính trong gia đình có xác nhận của U. Mặt khác, bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho rằng mức hình phạt 9 năm tù là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã khắc phục hậu quả không những trả lại xe cho bị hại mà còn khắc phục, bồi thường thêm cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng và trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K số tiền 50.000.000 đồng. Như vậy, đây là những tình tiết
mới bổ sung ở giai đoạn phúc thẩm làm cơ sở cho việc xem xét kháng cáo của bị cáo. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5]. Do thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Hữu P, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, xử phạt bị cáo Hoàng Hữu P 07 (bảy) năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam 04/10/2023.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Hoàng Hữu P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoài Thủy |
Bản án số 13/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vụ án hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 13/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Hữu P về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
