Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-8-2024

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tư
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm và ông Trần Hành
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh: Bà Quách Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08-8-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 11/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2024, về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 10/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1967;
  • Địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Hoàng Xuân T, sinh năm: 1960;
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; (vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:

Về tình cảm: Bà Nguyễn Thị K với ông Hoàng Xuân T tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/5/2019 tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được 02 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Hai bên đã nhiều lần được hai gia đình hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay, bà Nguyễn Thị K nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hoàng Xuân T;

Về con chung: Quá trình hôn nhân bà Nguyễn Thị K và ông Hoàng Xuân T có 03 con chung là Hoàng Thị T1, sinh ngày 26/2/1997, Hoàng Đình P, sinh ngày 23/01/2001 và Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 12/8/2004. Các con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành (trên 18 tuổi)và đều có khả năng lao động nên bà Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản và nợ chung: Bà Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Xuân T đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản thủ tục tố tụng theo luật định nhưng vắng mặt không có lý do trong các buổi làm việc lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương, Công an xã xã K, thị xã K xác nhận: Bị đơn ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1960, có số định danh cá nhân: 042060013743, có nơi đăng ký thường trú tại thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, ông Hoàng Xuân T chưa chuyển khẩu và cũng không có nơi đăng ký tạm trú tại nơi khác.

Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn bà Nguyễn Thị K cung cấp số điện thoại, địa chỉ nơi cư trú, tạm trú của bị đơn ông Hoàng Xuân T và cũng đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại với ông Hoàng Xuân T nhưng ông Hoàng Xuân T từ chối làm việc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án và đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  • - Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
    • + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Hoàng Xuân T;
    • + Về con chung: Con chung của bà Nguyễn Thị K và ông Hoàng Xuân T đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.
    • + Về tài sản và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
    • + Về án phí: Xử buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn Hoàng Xuân T cư trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về thủ tục tố tụng:

    Ông Hoàng Xuân T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ và niêm yết Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Ông Hoàng Xuân T đang có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.

  3. Về hôn nhân:

    Nguyễn Thị K với ông Hoàng Xuân T tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn lại với nhau vào ngày 0/5/2019 tại UBND xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được 02 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Hai bên đã nhiều lần được hai gia đình hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Hiện nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Do đó, nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị K và ông Hoàng Xuân T không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Hoàng Xuân T.

  4. Về con chung:

    Nguyễn Thị K và ông Hoàng Xuân T có 03 con chung là Hoàng Thị T1, sinh ngày 26/2/1997, Hoàng Đình P, sinh ngày 23/01/2001 và Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 12/8/2004.

    Hội đồng xét xử xét thấy, các con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành và đều có đủ khả năng lao động. Do đó, không xem xét việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đối với bà Nguyễn Thị K và ông Hoàng Xuân T.

  5. Về tài sản, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  6. Về án phí và quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị K là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, Điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị K với ông Hoàng Xuân T.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0014652 ngày 02/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
  3. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Kỳ Anh ;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS T.X Kỳ Anh;
  • - UBND xã Ia Pếch, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T.M/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 13
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger