|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-PT
Ngày 08 - 11 - 2024
“V/v ly hôn, tranh chấp quyền
nuôi con, nợ chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Bà Huỳnh Ái Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và tại điểm cầu Thành phần là Toà án nhân dân huyện T, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã mở phiên tòa xét xử công khai theo hình thức trực tuyến đối với vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số: 22/2024/TLPT- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con và nợ chung".
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 50/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 118/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, có mặt;
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1982, có mặt;
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của anh Nguyễn Hồng T về tranh chấp nợ chung: Chị Trần Hoàng Q, sinh năm 1993, địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, theo giấy ủy quyền ngày 15/01/2024, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ngân hàng N1. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung Q1, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T, theo văn bản ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNN-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng N1, có đơn xin vắng mặt;
- Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1950, có mặt;
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Ngân hàng N1. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T, tỉnh Trà Vinh;
Địa chỉ tại: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Trúc N, chức vụ: P. Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952 (vợ ông H1). Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh), có đơn xin vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hồng L, sinh năm 1979 (con ông H1).Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có đơn xin vắng mặt;
- Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1974, có đơn xin vắng mặt;
Địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T, tỉnh Trà Vinh;
- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, là nguyên đơn trong vụ án.
* Ngoài ra, còn có sự tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu:
- Điểm cầu trung tâm có ông Nguyễn Tấn Đạt – Cán bộ kỹ thuật của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh;- Điểm cầu thành phần có ông Nguyễn Phước Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh. NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/11/2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Nguyễn Hồng T tự quen biết tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình chấp thuận cho tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2009. Sau ngày cưới chị và anh T sống chung bên gia đình anh T tại khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Xuân M, sinh ngày 04/03/2011 và Nguyễn Ngọc Xuân H2, sinh ngày 06/12/2014. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Nguyễn Hồng T không chung thủy có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, về nhà kiếm cớ la mắng cự cãi với chị, chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T không sửa đổi, do không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị đã rời bỏ anh T sống ly thân từ tháng 09 năm 2023 đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hồng T.
Về con chung: Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung Nguyễn Ngọc Xuân M và Nguyễn Ngọc Xuân H2, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết;
Về nợ chung: Tại đơn khởi kiện chị H khai không có nợ, tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 08/7/2024 chị khai quá trình chung sống ngày 07/7/2021 vợ chồng có vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Trà Vinh số tiền 29.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 07/7/2026. Nay vợ chồng ly hôn chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về khoản nợ này mà chị đồng ý chịu trách nhiệm trả tiền vay cho Ngân hàng C, không yêu cầu anh T liên đới trả nợ vay.
Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc H1 (cha anh T) về việc buộc chị phải có trách nhiệm trả số tiền 150.000.000 đồng vay của Ngân hàng N1 – chi nhánh huyện T, chị không đồng ý vì chị không sử dụng số tiền này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hồng T trình bày và có yêu cầu như sau:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị H về thời gian đăng ký kết hôn, con chung và tài sản chung, nhưng không thống nhất về nợ chung như chị H trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là không đúng, tuy nhiên vợ chồng chung sống với nhau không có hạnh phúc nên anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.
Về con chung: Tùy theo nguyện vọng của 02 con chung Nguyễn Ngọc Xuân M và Nguyễn Ngọc Xuân H2, con theo ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có nên không cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Như chị H trình bày là không đúng, ngày 12/4/2023 vợ chồng có vay vốn Ngân hàng N1 - Chi nhánh T, phòng G, thị trấn C số tiền vay 300.000.000 đồng mục đích vay là để vợ chồng kinh doanh mua bán heo, có thế chấp bằng quyền sử dụng đất thửa đất số 29, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.634,3m² loại đất ODT + CLN toạ lạc khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh do anh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên thửa đất này là của ông Nguyễn Ngọc H1 - cha ruột của anh tạm thời cho vợ chồng mượn để làm thủ tục vay vốn. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn thì ngày 12/4/2024 anh đã hoàn trả xong tiền vay cho Ngân hàng, số tiền này là của cha ruột anh ông Nguyễn Ngọc H1 cho mượn trả Ngân hàng để tránh nợ lãi quá hạn, nay anh yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc H1 số tiền 150.000.000 đồng, anh đồng ý trả số tiền 150.000.000 đồng cho ông H1.
Anh thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T nhưng sau đó đã trả xong từ lâu nhưng không nhớ rõ thời gian cụ thể; đối với số tiền vay 29.000.000 đồng là do chị H1 tự ý vay anh không biết, không sử dụng số tiền này nên không đồng ý trả.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của anh Nguyễn Hồng T về tranh chấp đối với phần nợ chung trình bày: Thống nhất với lời trình bày của anh T, về khoản vay vốn Ngân hàng N1 - Chi nhánh T, phòng G, thị trấn C số tiền vay 300.000.000 đồng mục đích vay là để vợ chồng kinh doanh mua bán phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày của vợ chồng, chị H1 thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng kinh doanh mua bán heo và số tiền anh T làm ra có đưa cho chị để chăm lo phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, chăm lo cho 02 con, chị H1 thừa nhận có ủy quyền cho anh T vay vốn Ngân hàng nhưng cho rằng không biết anh T vay tiền là không đúng. Ngày 12/4/2024 anh T đã hoàn trả xong tiền vay cho Ngân hàng, số tiền này là của cha ruột anh ông Nguyễn Ngọc H1 cho mượn, nay anh T yêu cầu chị H1 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc H1 số tiền 150.000.000 đồng, anh đồng ý trả số tiền 150.000.000 đồng cho ông H1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 - Chi nhánh T (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày và yêu cầu:
Anh Nguyễn Hồng T đại diện gia đình ký hợp đồng vay của Ngân hàng, phòng G, thị trấn C số tiền vay 300.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 7404-LAV-202301288 ngày 12/4/2023, mục đích vay phục vụ kinh doanh/nhu cầu đời sống, lãi suất tiền vay 12%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi trong hạn (hạn trả nợ gốc 05 kỳ là từ ngày 10/4/2023 đến ngày 10/4/2028, mỗi kỳ trả số tiền gốc 60.000.000 đồng). Để đảm bảo hợp đồng vay gia đình anh T có thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 29, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.634,3m² loại đất ODT + CLN toạ lạc khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh do anh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do các bên có tranh chấp ly hôn nên ngày 29/01/2024 Ngân hàng có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu anh T và chị H1 phải hoàn trả số tiền vay gốc và lãi theo hợp đồng đã ký. Đến ngày 12/4/2024 anh T đã hoàn trả số tiền vay gốc và lãi cho Ngân hàng xong nên Ngân hàng xin rút yêu cầu độc lập trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày và yêu cầu:
Hộ của chị Nguyễn Thị H, có người thừa kế là anh Nguyễn Hồng T có vay số tiền 29.000.000 đồng vào ngày 07/7/2021, thời hạn trả đến ngày 07/7/2026, mục đích vay chăn nuôi bò sinh sản, hiện nợ vay vẫn còn trong hạn, hộ chị H đã cam kết trả nợ khi đến hạn nên Ngân hàng không tham gia khởi kiện trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày và yêu cầu:
Đầu năm 2023, con của ông là Nguyễn Hồng T và con dâu là Nguyễn Thị H có nhu cầu vay vốn làm ăn kinh doanh mua bán heo thịt nên ông có cho mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 29, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.634,3m² loại đất ODT + CLN toạ lạc khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh của ông để đứng tên vay vốn Ngân hàng, sau khi anh T nhận tiền từ Ngân hàng về nhà thì giao toàn bộ số tiền vay cho chị H cất giữ, chị H cầm tiền bỏ vào cọc xây hay trả đêm về gửi nhà mẹ ruột ở xã T. Sau đó, xảy ra mâu thuẫn, khoản vay đã đến hạn trả nhưng vợ chồng T và H không trả được. Sợ khoảng vay bị quá hạn, ảnh hưởng đến phần hưởng của các con ông nên ông đã đi vay mượn của ông Đặng Văn T2 số tiền 300.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng thay cho vợ chồng T và H. Nay yêu cầu vợ chồng T và H phải trả số tiền 300.000.000 đồng cho ông H, mỗi người trả số tiền 150.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T2 trình bày:
Ngày 12/4/2024 ông có cho ông Nguyễn Ngọc H1 vay số tiền 300.000.000 đồng, nay ông không có tranh chấp với ông H1 trong vụ án này, nếu có ông sẽ tranh chấp trong một vụ kiện khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 (vợ ông H1), anh Nguyễn Hồng L (con ông H1) trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông H1.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 50/2023/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:
Áp dụng Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 244, Điều 465, Điều 466, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 9, 37, 51, 53, 55, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hồng T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân M, sinh ngày 04/3/2011 và Nguyễn Ngọc Xuân H2, sinh ngày 06/12/2014 cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo nguyện vọng của các con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị H và anh T khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết; đối với thửa đất số 29, tờ bản đồ số 34 diện tích 1.634,3m² loại đất ODT + CLN, toạ lạc khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc H1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hồng T phải trả số tiền vay 300.000.000 đồng.
Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hồng T mỗi người phải có trách nhiệm trả số tiền 150.000.000 đồng cho ông Nguyễn Ngọc H1. Do ông H1 không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng N1 – Chi nhánh T về việc yêu cầu anh Nguyễn Hồng T và chị Nguyễn Thị H phải trả số tiền vay gốc 300.000.000 đồng và phần lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký, do Ngân hàng có đơn xin rút lại không có tranh chấp.
- Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Trà Vinh không tranh chấp, không có đơn yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 06 tháng 08 năm 2024, chị Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa 01 phần án sơ thẩm theo hướng không buộc chị phải trả cho ông Nguyễn Ngọc H1 số tiền 150.000.000 đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm (bà Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Hồng L, ông Đặng Văn T2) có gửi cho Toà án cấp phúc thẩm bản tự khai trình bày ý kiến nhưng không khác so với ý kiến ở cấp sơ thẩm;
Qua phân tích giải thích các quy định của pháp luật cũng như mối quan hệ gia đình với nhau, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nhưng xin rút yêu cầu kháng cáo; ông Nguyễn Ngọc H1 xin rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập; nguyên đơn và bị đơn cũng đồng ý việc rút yêu cầu độc lập của ông H1.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm:
- - Về thủ tụng tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn: Tại phiên toà phúc thẩm, chị H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo; ông Nguyễn Ngọc H1 xin rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập, không yêu cầu anh T và chị H1 trả cho ông số tiền 300.000.000 đồng. Xét thấy việc rút kháng cáo của chị Nguyễn Thị H và việc rút đơn yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc H1 là tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 và 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- [1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H là còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Qua xem xét hồ sơ vụ án, kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Đối với kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa 01 phần bản án sơ thẩm về phần nợ chung, không buộc chị phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Ngọc H1 số tiền 150.000.000đồng. Tại phiên toà phúc thẩm chị H1 xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy việc rút lại đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị H là tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Nguyễn Thị H.
[2.2] Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc H1: Ông Nguyễn Ngọc H1 có cho vợ chồng anh T và chị H1 mượn thửa đất số 29, tờ bản đồ số 34, diện tích 1.634,3m² loại đất ODT + CLN toạ lạc khóm B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh, để vay vốn của Ngân hàng N1 – chi nhánh huyện T, tuy nhiên đến hạn nhưng anh T và chị H1 không trả được nợ nên ông H1 đã đi vay của người khác số tiền 300.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng và ông H1 đã trả xong. Ông Nguyễn Ngọc H1 yêu cầu chị H1 và anh T mỗi người phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Ngọc H1 số tiền 150.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông buộc chị H1 và anh T mỗi người phải có trách nhiệm trả cho ông H1 số tiền 150.000.000 đồng, chị H1 đã kháng cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Ngọc H1 rút lại toàn bộ yêu cầu độc lập, không yêu cầu Toà án giải quyết. Xét thấy, việc rút lại đơn yêu cầu độc lập của ông H1 là tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội; nguyên đơn và bị đơn cũng thống nhất cho ông H1 rút lại đơn yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm. Hậu quả của việc rút đơn yêu cầu độc lập: ông Nguyễn Ngọc H1 được khởi kiện lại bằng 01 vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.
- [3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định “Đương sự rút kháng cáo tại phiên toà phúc thẩm phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm” cho nên buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí phúc thẩm với số tiền bằng 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003052 ngày 06/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- [4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 và khoản 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Nguyễn Thị H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đình chỉ xét giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc H1 là có căn cứ chấp nhận.
- [5] Các quyết định khác của bản án Hôn nhân sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, không bị sửa đổi bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 và 5 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 và 6 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị H.
Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 50/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- Về nợ chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc H1 về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hồng T trả số tiền vay 300.000.000 đồng.
Hậu quả của việc rút yêu cầu độc lập: Ông Nguyễn Ngọc H1 được khởi kiện lại bằng 01 vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí phúc thẩm với số tiền bằng 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003052 ngày 06/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Châu |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con, nợ chung
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con, nợ chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia tài sản khi ly hôn giữa Nguyễn Thị H với Nguyễn Hồng Th
