TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/DS-ST
Ngày 26 - 9 - 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Mẫn và ông Lại Quang Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-DS ngày 12/3/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1946 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1950; cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Đại diện theo uỷ quyền: Chị Nông Thị N, sinh năm 1987 và chị Hồ Thị P, sinh năm 1999; địa chỉ: Số E, đường N, khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, có đơn xin vắng mặt.
* Bị đơn: + Anh Nguyễn Vũ M, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm C, thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, có đơn xin vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1984; trú tại: Xóm C, thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: đang làm việc cho chủ sử dụng lao động là MEZONDORARU. Địa chỉ: Y-ken, Sanyouonada-shi, Ooazaonoda 6 (Số điện thoại: 0836.847.xxx).
Đại diện theo uỷ quyền của chị H1 là anh Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1987; địa chỉ: B, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam và chị Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, đường T, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có đơn xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân D - Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Hà Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đăng Đ - Phó Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Hà Nam, có đơn xin vắng mặt.
+ Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trọng B1 - Chủ tịch UBND xã A, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của các nguyên đơn ông Nguyễn Đức L, bà Vũ Thị H và người đại diện theo ủy quyền của ông L và bà H là chị Nông Thị N trình bày:
Khoảng năm 2006, gia đình ông bà là một trong 10 hộ gia đình được UBND xã A lập danh sách trình lên cấp trên giao đất có thu tiền sử dụng đất, tại đường D, thôn Đ, xã A, huyện B. Năm 2007, UBND huyện B đã ra quyết định giao đất cho 10 hộ trong đó có gia đình ông. Sau khi được cấp đất, gia đình ông đã tiến hành san lấp toàn bộ diện tích đất được cấp, đến đầu năm 2009, vợ chồng ông xây nhà tạm để sử dụng trên thửa đất được cấp (diện tích làm nhà khoảng 16m²), lợp ngói Brôximăng, xây bằng gạch bi.
Ngày 20/10/2009, con trai ông là Nguyễn Vũ M kết hôn với chị Nguyễn Thị Thanh H1 và về sống cùng vợ chồng ông tại xóm C, thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Đến tháng 12/2010, vợ chồng ông tiến hành sửa chữa ngôi nhà tạm đó để cho con trai và con dâu ông là anh M và chị H1 mượn để buôn bán nước giải khát.
Đến tháng 03/2017, do mâu thuẫn vợ chồng, con dâu ông là chị H1 bỏ về bên nhà bố mẹ đẻ ở và đến năm 2022 anh M và chị H1 được Tòa án nhân dân huyện Bình Lục ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Tháng 5/2022 chị H1 đi lao động tại Nhật Bản còn con trai ông là anh M tiếp tục sử dụng thửa đất nêu trên cho đến nay.
Khoảng đầu tháng 10 năm 2022, ông biết được UBND huyện B đã cấp GCNQSD đất đối với thửa đất mà ông bà được cấp năm 2007 cho anh M và chị H1 là con trai và con dâu ông. Ngày 29/12/2022, ông được UBND huyện B cung cấp hồ sơ về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất ông được giao đất năm 2007 là thửa đất số 354, tờ bản đồ 21, diện tích 72m² đất ở nông thôn, GCNQSD đất số BR607090 do UBND huyện B cấp ngày 20/12/2013 mang tên Nguyễn Vũ M và Nguyễn Thị Thanh H1. Việc UBND huyện B, tỉnh Hà Nam cấp GCN mang tên anh M và chị H1 đối với thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21 nêu trên là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà. Vì đây là tài sản chung của vợ chồng ông mua trực tiếp của UBND xã A vào năm 2006, có phiếu thu tiền đầy đủ, vợ chồng ông chỉ cho anh M và chị H1 mượn nhà và đất để sử dụng để bán nước, chứ không phải tặng cho hay chuyển nhượng thửa đất số 354 nêu trên cho anh M và chị H1, vợ chồng ông cũng chưa hề ký bất kỳ giấy tờ nào về việc tặng cho hay chuyển nhượng thửa đất số 354 nêu trên cho anh M và chị H1.
Ngày 16/02/2023, UBND xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam đã hòa giải tranh chấp quyền sử dụng là thửa đất số 354 nêu trên với anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1, buổi hòa giải không thành.
Nay ông bà làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam yêu cầu đề nghị giải quyết cụ thể như sau:
- Tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1.
- Tuyên buộc anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1 trả lại thửa đất số 354 nêu trên cho vợ chồng tôi (thửa đất số 354 nêu trên hiện do anh Nguyễn Vũ M đang quản lý và sử dụng).
Bị đơn anh Nguyễn Vũ M trình bày:
Ngày 20/10/2009, anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Thanh H1 và về sống cùng bố mẹ anh là ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H tại xóm C, thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.
Cuối tháng 12 năm 2010, anh có xin mượn bố mẹ anh ngôi nhà tọa lạc trên thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21 tại đường D, thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam để cho vợ anh ra bán nước giải khát do vợ anh không có công việc ổn định, anh làm nghề lái xe đường dài nên thường xuyên đi xa nhà.
Khoảng cuối tháng 12 năm 2013, do công việc chạy xe đường dài nên thường xuyên đi xa nhà, vợ anh ở nhà đã tự ý kê khai, làm các thủ tục để cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 354 nêu trên, GCNQSDĐ số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên Nguyễn Vũ M và Nguyễn Thị Thanh H1. Sau khi cấp GCN do vợ chồng anh cần tiền để mua xe đi làm ăn, vợ chồng anh mang GCNQSD đất đi thế chấp ở Ngân hàng để vay vốn, vợ chồng anh cũng không nói gì với bố mẹ anh về việc cấp GCNQSD đất. Sau đó, do làm ăn thua lỗ, vợ chồng mẫu thuẫn nên anh đã phải về nói với bố mẹ anh là đất của ông bà đã được cấp GCNQSDĐ và đã mang đi vay mượn tiền để trả nợ và rút GCNQSDĐ về và hiện tại do bố mẹ anh cất giữ. Ngày 20/5/2022, vợ chồng anh ly hôn theo Quyết định số 06/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, không đề nghị giải quyết tài sản.
Ông L và bà H đã gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã A, huyện B và Ủy ban nhân dân huyện B đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên Nguyễn Vũ M và Nguyễn Thị Thanh H1 nhưng bố mẹ anh lại rút đơn khiếu nại và gửi đơn đề nghị hòa giải nhưng không thành. Nay ông bà khởi kiện vụ án dân sự sơ thẩm ra Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân xã A, huyện B trình bày:
* Về nguồn gốc thửa đất:
Căn cứ Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND huyện B về việc thu hồi và giao đất cho các hộ tự làm nhà ở: Quyết định số 2538/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND huyện B về việc phê duyệt phương án tính giá trị sử dụng đất để giao đất cho các hộ có nhu cầu tự làm nhà ở. Ông Nguyễn Đức L và vợ là bà Vũ Thị H không có tên trong quyết định giao đất, tại thời điểm làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Vũ M và bà Nguyễn Thị Thanh H1 đang trực tiếp sử dụng đất và đã xây dựng nhà ở. Ngày 06/11/2013, UBND xã đã lập tờ trình số 20/TTr-UBND về việc đề nghị cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày 31/12/2017 của UBND huyện B tại khu vực B, thôn Đ đã được UBND huyện B nhất trí hộ ông Nguyễn Vũ M được giao một thửa đất ở tại lô đất số 05 (thuộc thửa đất số 7, tờ bản đồ số 21, bản đồ địa chính xã A năm 1996, theo mặt bằng xin giao đất, xin điều chỉnh cho các hộ dân tự làm nhà ở năm 2007 xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam).
Theo bản đồ địa chính xã A năm 1996, đo đạc chính lý năm 2013, thửa đất hộ ông M đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử đất thuộc thửa đất số 354, tờ bản đồ 21, diện tích 72m² đất ở nông thôn.
* Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất: Anh Nguyễn Vũ M là con trai của ông Nguyễn Đức L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 là con dâu của ông Nguyễn Đức L. Khi đi làm thủ tục xin giao đất, ông L có nộp tiền xin giao đất cho con trai, kế toán xã (người thu tiền đã ghi trên phiếu thu tên người nộp tiền là ông Nguyễn Đức L. Quá trình giải quyết ông L có cung cấp 02 phiếu nộp tiền cho UBND xã A.
Phiếu thu ngày 25/1/2006, người nộp là Nguyễn Đức L, số tiền 50.000.000đ với lý do nộp: tiền mua đất Đào.
Phiếu thu ngày 20/10/2008, người nộp là Nguyễn Đức L là 50.000.000đ với lý do nộp: tiền mua đất B.
Năm 2013, khi hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất, hộ ông M đã được Chi cục Thuế huyện B xác nhận hoàn thành NVTC
Ngày 20/12/2013, hộ ông M được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số seri BR 607090, thửa đất số 354, tờ bản đồ 21, diện tích 72m² đất ở nông thôn, hộ ông M quản lý và sử dụng ổn định không tranh chấp.
* Quan điểm của UBND xã A về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy GCNQSD đất:
Về yêu cầu huỷ Quyết định và huỷ GCNQSD đất số BR 60700 ngày 20/12/2013 mang tên Nguyễn Vũ M và Nguyễn Thị Thanh H1; tuyên buộc anh Nguyễn Vũ M trả lại thửa đất số 354 nêu trên cho vợ chồng ông L là không có cơ sở vì: Việc cấp GCNQSD đất cho ông M là đúng theo hồ sơ điều chỉnh mặt bằng giao đất cho các hộ dân tự làm nhà ở năm 2013 xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam tại tờ bản đồ số 21, thửa số 7 đã được phê duyệt (Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND huyện B về việc thu hồi và giao đất cho các hộ tự làm nhà ở: Quyết định số 2538/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND huyện B và phê duyệt phương án tính giá trị sử dụng đất để giao đất cho các hộ có nhu cầu tự làm nhà ở: Tờ trình số 20 TTr-UBND ngày 06/11/2013 của UBND xã A về việc đề nghị cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 2537/QĐ-UBND ngày 31/12/2017 của UBND huyện B tại khu V, thôn Đ). UBND xã A hoàn thiện hồ sơ đề nghị điều chỉnh hồ sơ giao đất cho các hộ đang sử dụng đất và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Vũ M là đúng theo quy định.
Từ những căn cứ trên; UBND xã A đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam căn cứ vào các hồ sơ, tài liệu, chứng cứ được các bên cung cấp và các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện B có ý kiến như ý kiến của UBND xã A. Nên đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam căn cứ vào các hồ sơ, tài liệu, chứng cứ được các bên cung cấp và các quy định hiện hành để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa xác định: Quá trình thụ lý, giải quyết xét xử, Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án về cơ bản chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37; khoản 2 Điều 244 và Điều 246 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H với anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1, cụ thể: Ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H liên đới trả cho bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), hai bên đã giao nhận đủ số tiền trên. Anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1 trả lại cho ông L và bà H toàn bộ thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21, với diện tích 72m² cùng tài sản trên đất là ngôi nhà tạm lợp ngói Brôximăng xây bằng gạch bị tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, đã được UBND huyện B, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 ngày 20/12/2013. Ông L và bà H có toàn quyền quản lý sử dụng diện tích 72m² tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21 và tài sản trên đất nêu trên và có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký thay đổi thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp và án phí các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên trình bày ý kiến phát biểu, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng: Do chị Nguyễn Thị Thanh H1 hiện đang cư trú tại Nhật Bản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam theo quy định tại cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa các đương sự đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử văng mặt các đương sự.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1, thấy:
Ngày 10/9/2024, ông L và bà H có đơn nộp cho Tòa án xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện phù hợp quy định của pháp luật, nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với nội dung yêu cầu khởi kiện này của ông L và bà H.
[2.1]. Xét yêu cầu của ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Vũ M trả lại vợ chồng ông quyền sử dụng đất tại thửa đất số 354 tại thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, thấy:
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/9/2024, các bên được sự đã thống nhất thảo thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trong đó các bên đã thống nhất thỏa thuận:
Bên nguyên đơn ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H liên đới trả cho bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), hai bên đã giao nhận đủ số tiền trên. Bên bị đơn anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1 trả lại cho ông L và bà H toàn bộ thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21, với diện tích 72m² cùng tài sản trên đất là ngôi nhà tạm lợp ngói Brôximăng xây bằng gạch bị tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, đã được UBND huyện B, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 ngày 20/12/2013. Ông L và bà H có toàn quyền quản lý sử dụng diện tích 72m² tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21 và tài sản trên đất nêu trên và có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký thay đổi thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Xét thấy việc thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, nội dung không trái quy định của pháp luật nên căn cứ quy định tại Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án công nhận sự thảo thuận trên của các bên đương sự.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Đối với chi phí ủy thác tư pháp:
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H đã nộp tiền lệ phí, chí phí uỷ thác với tổng số tiền 3.400.000 đồng. Trong đó ông L, bà H phải chịu lệ phí thực hiện uỷ thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt giấy tờ văn bản tố tụng số tiền là 200.000 đồng. Đối với số tiền 3.200.000 đồng ông L, bà H đã nộp tiền chi phí thực tế uỷ thác tư pháp để thu thập chứng cứ, tuy nhiên tại Công văn số 2298/BTP-PLQT ngày 12/8/2024 của Bộ Tư pháp, do hồ sơ uỷ thác thiếu văn bản tài liệu nên Bộ Tư pháp không thực hiện được việc uỷ thác thu thập chứng cứ và trả lại toàn bộ hồ sơ cho Toà án, do đó ông L, bà H được nhận lại số tiền 3.200.000 đồng đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông L, bà H là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông L, bà H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, khoản 2 Điều 244 và Điều 246 Bộ luật tố tụng dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR607090 ngày 20/12/2013 mang tên anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1.
2. Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự: Ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H với anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1, cụ thể:
Ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H liên đới trả cho bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H1 số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), hai bên đã giao nhận đủ số tiền trên. Anh Nguyễn Vũ M và chị Nguyễn Thị Thanh H1 trả lại cho ông L và bà H toàn bộ thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21, với diện tích 72m² cùng tài sản trên đất là ngôi nhà tạm lợp ngói Brôximăng xây bằng gạch bi tọa lạc tại thôn Đ, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, đã được UBND huyện B, tỉnh Hà Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 607090 ngày 20/12/2013. Ông L và bà H có toàn quyền quản lý sử dụng diện tích 72m² tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 21 và tài sản trên đất nêu trên và có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký thay đổi thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H phải nộp 200.000 đồng tiền lệ phí thực hiện uỷ thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt giấy tờ văn bản tố tụng. Số tiền đã nộp theo biên lai số 0000033 ngày 08/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ thi hành án.
Hoàn trả ông Nguyễn Đức L và bà Vũ Thị H số tiền chi phí thực tế uỷ thác tư pháp để thu thập chứng cứ: 3.000.000 đồng và 200.000 đồng theo biên lai số 0000034, 0000035 ngày 08/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông L, bà H.
4. Bác yêu cầu khác của đương sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Hà Nam;
- - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Văn San |
Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 13/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
