Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DSST

Ngày: 19 - 4 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2023/TLST-DS, ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (Viết tắt là S1)

Địa chỉ: Số B N, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc; Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Phạm Ngọc V – Chuyên viên quản lý nợ thuộc phòng Kiểm sát rủi ro Chi nhánh Ngân hàng tại Ninh Thuận (Văn bản ủy quyền số 63/2023/GUQ-CNNT ngày 04-10-2023) - Có mặt.

2. Bị đơn:

  • + Ông: Quảng Minh V1 – Sinh năm 1980 – Vắng mặt;
  • + Bà: Hải Thị T – Sinh năm: 1988 – Vắng mặt

Cùng địa chỉ: khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông (bà):

  • + Hải Thị T1 – Sinh năm: 1975 – Vắng mặt
  • + Đàng Năng N – Sinh năm: 1970 – Vắng mặt
  • + Hải Thị H – Sinh năm: 1972 – Vắng mặt
  • + Đàng Năng K – Sinh năm: 1964 – Vắng mặt

Cùng địa chỉ: khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 04-10-2023 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

    Năm 2018 Ngân hàng S1 cho ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T vay số tiền nợ là 130.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng theo hợp đồng tín dụng số: LD1826700471 ngày 24/9/2018. Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay nợ là thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018. Hết thời hạn vay, năm 2019 ông V1 và bà T tiếp tục gia hạn khoản vay 12 tháng theo thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số LD1826700471-01 ngày 23/9/2018. Hết thời gian gia hạn, ông V1 và bà T tiếp tục đề nghị gia hạn khoản vay 12 tháng và được S1 chấp nhận theo thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số LD1826700471-02 ngày 22/9/2020.

    Hết thời hạn gia hạn theo hợp đồng, giữa S1 chấm dứt hợp đồng tín dụng với ông V1, bà T đồng thời yêu cầu thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng nhưng ông V1 và bà T chưa thanh toán. Năm 2022 ông V1 và bà Thanh Ly h và có yêu cầu phân chia nợ chung trong thời kỳ hôn nhân trong đó có khoản nợ của S1. Quá trình giải quyết vụ án, ông V1 và bà T thỏa thuận được với S1 về việc thanh toán nợ nên Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện (bản án số 69/2022/HNGĐ-ST ngày 31/8/2022). Tuy nhiên, sau nhiều lần thỏa thuận nhưng ông V1, bà T không trả nợ cho S1. Nay S1 khởi kiện yêu cầu ông V1 và bà T phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

    • Yêu cầu bà T, ông V1 phải thanh toán số tiền nợ gốc còn nợ của S1 tính đến ngày xét xử sở thẩm (ngày 19/4/2024) là: 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng);
    • Yêu cầu bà T, ông V1 phải thanh toán số tiền nợ lãi còn nợ của S1 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2024) là: 27.084.613 đồng (hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm mười ba đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm buộc ông V1 và bà T phải chịu tiền lãi của số tiền còn nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ cho S1.
    • Yêu cầu tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S1.
  2. Bị đơn bà Hải Thị T trình bày: quá trình giải quyết vụ án, bà Hải Thị Thanh c ý kiến đồng ý với yêu cầu khởi kiện của S1.
  3. Bị đơn ông Quảng Minh V1 vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến;
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: vợ chồng bà Hải Thị T1, ông Đàng Năng N có ý kiến trình bày: trên thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018 có tài sản là 01 căn nhà của vợ chồng ông (bà), vợ chồng ông (bà) đồng ý tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bà Hải Thị T và ông Quảng Minh V1;
  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: vợ chồng bà Hải Thị H và Đàng Năng K có ý kiến trình bày: trên thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018 có tài sản là 01 căn nhà của vợ chồng ông (bà), vợ chồng ông (bà) đồng ý tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bà Hải Thị T và ông Quảng Minh V1;
  6. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa:

    Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

    Về nội dung vụ án: khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điẻm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải trả số tiền nợ gốc: 56.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 27.084.613 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S và lãi suất phát sinh kể từ ngày 20/4/2024 đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ gốc.

    Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S1. Trường hợp ông V1 và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì cho phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

    Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải chịu và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng S1.

    Về án phí: ông V1 và bà T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng S1 không phải chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Thủ tục tố tụng:
  2. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Đối với sự vắng mặt của bị đơn ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T: đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

    Đối với sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vợ chồng bà Hải Thị T1, ông Đàng Năng N và vợ chồng bà Hải Thị H và Đàng Năng K được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có ý kiến xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

  3. Nội dung giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
  4. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được Hội đồng xét xử thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn bà Hải Thị T có đủ cơ sở xác định:

    Năm 2018 Ngân hàng S1 cho ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T vay số tiền nợ là 130.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng theo hợp đồng tín dụng số: LD1826700471 ngày 24/9/2018. Tài sản thế chấp để đảm bảo khoản vay nợ là thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018. Quá trình thực hiện hợp đồng, các bên thỏa thuận gia hạn các khoản nợ theo “Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số LD1826700471-01 ngày 23/9/2018”; “Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số LD1826700471-02 ngày 22/9/2020”.

    Xét các thỏa thuận giữa S1 và ông V1, bà T trong quan hệ tín dụng nêu trên được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật nên có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng ông V1 và bà T không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và xử lý tài sản thế chấp là có căn cứ chấp nhận cụ thể:

    Tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (19/4/2024) như sau: Nợ gốc: 56.000.000 đồng; lãi: 27.084.613 đồng.

    Về nghĩa vụ trả nợ: theo quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình thì đây là nghĩa vụ chung của ông V1 và bà T trong thời kỳ hôn nhân. Tại thời điểm xét xử, bà T và ông V1 đã ly hôn theo bản án số 69/2022/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, căn cứ quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ 3 vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn. Do đó, buộc bà T và ông V1 phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho S1.

    Về tài sản thế chấp: tài sản thế là quyền sử dụng đất thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ xác định, trên đất có một ngôi nhà của ông V1 và bà T, ngoài tài sản của ông V1 và bà T trên đất còn có tài sản là nhà ở của vợ chồng bà Hải Thị T1, ông Đàng Năng N và nhà ở của vợ chồng bà Hải Thị H và Đàng Năng K.

    Xét hợp đồng thế chấp số 1535/TC18 ngày 24/9/2018, ông V1 và bà T chỉ thế chấp quyền sử dụng đất, không thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai của bà Hải Thị H, Hải Thị T1 đều có ý kiến là đồng ý tiếp tục duy trì tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bà T và ông V1.

    Do đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu của S1 tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 299, 303, 325 của Bộ luật Dân sự 2015.

  5. Về chi phí tố tụng:
  6. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng, do yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng S1.

  7. Về án phí sơ thẩm:
  8. Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho Nguyên đơn đơn số tiền tạm ứng án phí 7.308.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002630 ngày 25-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

    Bị đơn là người cao tuổi nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị đơn.

  9. Quan điểm của Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử lý tiền chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • + Các điều: 26, 39, 147, 157, 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • + Các điều: 299, 303, 325, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  • + Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 201;
  • + Điểm đ khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bị đơn ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T.

  1. Buộc ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ chung trong thời kỳ hôn nhân số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 19-4-2024 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, cụ thể số tiền nợ phải trả như sau:
    • + Nợ gốc là: 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng);
    • + Lãi: 27.084.613 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi tư nghìn sáu trăm ba mươi mốt đồng).
  2. Từ ngày 20-4-2024 ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải liên đới tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng.
  3. Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp thửa đất số 5 tờ bản đồ số 20a bản đồ địa chính thị trấn P theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1535/TC18 ngày 24/9/2018 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để đảm bảo thu hồi nợ. Việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 299, 303, 325 của Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

  1. Về chi phí tố tụng: ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải liên đới hoàn lại số tiền chi phí tố tụng là 1.500.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
  2. Về án phí:

    Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 1.198.00 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000893 ngày 23-10-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ninh Phước, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Ông Quảng Minh V1 và bà Hải Thị T phải liên đới chịu án phí sơ thẩm số tiền là 4.154.200 đồng.

  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19-4-2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS huyện Ninh Phước;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Sửu

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DSST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp tín dụng

  • Số bản án: 13/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger