Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS-PT

Ngày 16/4/2024

 

V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân; Bà Lê Thị Dung.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: ông Dương Xuân Tú - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2023/TLPT-DS ngày 09/11/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Nông Cống bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 116/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1. Ông Trần Văn C, Sinh năm 1949. 2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1955.

Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Số nhà D, đường B, tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

(Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 07/5/2020 và Hợp đồng ủy quyền ngày 19/5/2020).

- Bị đơn: 1. Ông Phùng Xuân H, sinh năm 1949. 2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957.

Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

(Bà Nguyễn Thị H1 ủy quyền cho ông Phùng Xuân H tham gia tố tụng)

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1951.
  2. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1961.
  3. Ông Lê Văn L1, sinh năm 1966.
  4. Ông Lê Văn D, sinh năm 1955.
  5. Ông Lê Huy N, sinh năm 1960.

Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960.
  2. Ông Ngô Văn B, sinh năm 1954

Đều trú tại: thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt ông L; ông H, bà H1 và những người làm chứng gồm ông Nguyễn Văn H2, Lê Văn T2, Lê Văn L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự trình bày:

1. Nguyên đơn ông Trần Văn C và bà Lê Thị T trình bày:

Năm 1990, gia đình ông C có nhận chuyển nhượng 99m² đất thuộc thửa 814 tờ bản đồ số 7, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa của bà Lê Thị N1, khi chuyển nhượng có làm giấy chuyển nhượng đất, có người làm chứng ký và có xác nhận của trưởng thôn. Sau đó gia đình ông H, bà H1 đến mượn thửa đất này để đổ đất lấp ao tù, trồng cây ngắn ngày tránh ruồi, muỗi nên gia đình ông đã cho gia đình ông H mượn đất.

Đến năm 2016, gia đình ông có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu gia đình ông H trả lại đất cho gia đình ông nhưng gia đình ông H không trả vì vậy ông yêu cầu UBND xã giải quyết nhưng không được UBND xã giải quyết, vì vậy gia đình ông đã tự động dọn dẹp cây trên đất để sử dụng thì gia đình ông H cho rằng gia đình ông phá cây trên đất của họ nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu của mình. Do UBND xã không giải quyết được vụ việc, vì vậy ông làm đơn khởi kiện vợ chồng ông H, bà H1 ra Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H, bà H1 trả lại thửa đất số 814 tờ bản đồ số 7 địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với diện tích 99m².

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lê Thị T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa buộc vợ chồng ông Phùng Xuân H, bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại cho vợ chồng ông C, bà T 99m² đất thuộc thửa đất số 814 tờ bản đồ số 7 địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn ông Phùng Xuân H và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là đất chứa cây kè (ao kè) được chia quả thực trong cải cách ruộng đất năm 1955. Trong đó ông Lê Đại X là anh chồng bà Lê Thị N1 được chia quả thực ao kè này, sau đó ông X đi vùng kinh tế mới trong miền nam thì để lại cho em dâu là bà Lê Thị N1 sử dụng và đã được thể hiện chung trong thửa 270 tờ bản đồ số 4, bản đồ 299 năm 1987 của xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mang tên ông Ngô Văn B.

Năm 1990, gia đình ông và gia đình ông C, bà T cùng mua chung thửa đất này của bà N1, do gia đình ông là công chức nhà nước, không ở nhà thường xuyên nên giao việc mua bán cho bà T đứng ra thực hiện. Sau khi mua bán với bà N1 xong thì hai gia đình cùng khai thác chung số cây kè trên thửa đất này, mỗi gia đình thu hoạch 1 năm. Đến năm 2001 nhà nước tiến hành đo đạc lại diện tích thì bà T và bà H1 cùng đứng ra chỉ mốc giới cho đoàn đo đạc tách thửa đất mà hai gia đình đang sử dụng chung lâu nay thành 2 thửa đất số 850 của gia đình ông C, bà T và thửa 814 của gia đình ông H, bà H1.

Sau khi đo đạc và tách thửa, hai gia đình vẫn thu hoạch lá kè bình thường đối với thửa đất đã tách, phần đất của nhà nào nhà đó thu hoạch, đến năm 2010 gia đình ông chặt bỏ cây kè và thuê người chở đất lấp ao để trồng cây thì gia đình ông C vẫn không có ý kiến gì. Đến khoảng năm 2015 – 2016 gia đình ông C làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã mua chung của nhà bà N1 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc đó gia đình ông C mới tranh chấp thửa đất của gia đình ông.

Đối với giấy chuyển nhượng đất giữa bà N1 với bà T mà nguyên đơn đã cung cấp trong hồ sơ vụ án ông thấy rằng giấy này là không hợp pháp vì bà N1 chết năm 2009 thì nhiều năm sau, bà T mới đưa giấy chuyển nhượng cho các con bà N1 ký xác nhận, trong khi đó chính con bà N1 là ông Lê Văn L1 thừa nhận chữ ký trong giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06/02/1990 là do ông Lưu k thay bà N1, ông Lê Văn D và ông Lê Đại T3 cũng thừa nhận việc mua bán giữa bà N1 với bà T như thế nào các ông không biết, chỉ biết có việc mua bán còn cụ thể mua bán khi nào không biết, các ông chỉ biết sau khi bà N1 chết một thời gian, bà T mới đưa giấy đến nhờ các ông ký. Vì vậy ông đề nghị Tòa án không chấp nhận giấy chuyển nhượng ngày 06/02/1990 mà ông C đã xuất trình.

Tại phiên tòa, ông H đề nghị Tòa án không công nhận thửa đất đang tranh chấp là của ông C, bà T và công nhận thửa đất số 814 là của gia đình ông với lý do: những người làm chứng trong vụ án gồm ông Lê Hồng T1 là anh con nhà bác ruột bà T; ông Lê Văn T2, ông Lê Văn D và ông Lê Văn L1 là anh em họ gần của bà T. Vì vậy việc làm chứng việc mua bán là không khách quan, bên cạnh đó lời khai của ông Lê Hồng T1 không thống nhất: Khi khai là bà T đến nhà mời sang nhà bà N1 làm chứng việc mua bán, khi đến nơi đã thấy có mặt bà D1 và ông S ở đấy cũng như có mặt của cả 3 người con bà N1 là ông D, ông T2 và ông L1; Khi thì khai đi ngang qua nhà bà N1 được bà T mời vào làm chứng và

đến nơi chỉ có mình ông L1, bà D1, ông S đến sau cũng như không có mặt ông T2 và ông D. Đối với ông T2 và ông L1 cũng khai không thống nhất về thời điểm ký vào giấy nhượng đất và ai là người ký thay cho bà N1 trong giấy nhượng đất.

3. Những người làm chứng trình bày:

- Ông Ngô Văn B: Thửa đất của ông trước đây không nằm cạnh thửa đất tranh chấp mà cách một ao kè của gia đình ông B1 mới đến thửa đất tranh chấp nhưng thửa đất này được bản đồ 299 nhập chung vào với thửa đất nhà tôi với nhà ông B1. Trong thời gian sử dụng đất, ông thấy hai gia đình ông C, bà T với gia đình ông H, bà H1 vẫn cùng thu hoạch chung cây kè và sử dụng chung thửa đất còn việc mua bán cụ thể thế nào ông không rõ.

- Ông Lê Văn D: Trước đây ông không ở cùng bà N1 mà ông Lê Văn L1 là em trai ông ở cùng bà N1. Việc mua bán giữa các bên thế nào ông không rõ. Sau khi mẹ ông là bà Lê Thị N1 mất vài năm (bà N1 mất năm 2009) thì bà T đưa giấy chuyển nhượng đến cho ông ký thì ông ký vào giấy chuyển nhượng vì biết việc mẹ ông đã chuyển nhượng thửa đất này.

- Ông Lê Văn T2: Ông Lê Đại X là anh trai của ông T4 (bố đẻ ông) được chia quả thực một ao kè, năm 1983 ông X đi vùng kinh tế mới ở tỉnh Sông Bé thì để lại ao kè này cho mẹ ông là bà N1 sử dụng. Năm 1990 bà N1 bán ao kè này cho ông C, bà T và có em trai ông là Lê Văn L1 tham gia. Giấy chuyển nhượng là do vợ chồng ông C, bà T soạn thảo. Phần chữ ký của bà N1 không phải do bà N1 ký vì bà N1 không biết chữ. Năm 2009 bà N1 chết thì vài năm sau, bà T mới đưa giấy chuyển nhượng đất đến cho ông ký. Do đó việc chuyển nhượng cụ thể như thế nào ông không biết.

- Ông Lê Văn L1: Năm 1990 mẹ ông là bà Lê Thị N1 chuyển nhượng đất cho ông C, bà T và ông là người tham gia cùng, việc soạn thảo giấy chuyển nhượng là do gia đình ông C soạn thảo, ông có ký vào giấy chuyển nhượng. Đối với chữ ký trong giấy chuyển nhượng không phải là của bà N1 vì bà N1 không biết chữ, còn chữ ký trong giấy chuyển nhượng do ai ký ông không biết. Đối với chữ ký của ông T2 và ông D là ký sau đó.

- Ông Lê Huy N: Ông N là hàng xóm, ở cùng ngõ với hai gia đình ông C và ông H. Trước đây ông thấy 2 gia đình cùng sử dụng chung thửa đất, đến năm 2001, khi nhà nước đo đất và phân thành 2 thửa riêng biệt thì đất của gia đình nào, gia đình đấy sử dụng riêng. Đến khoảng năm 2010, gia đình ông C chặt kè để làm nhà cho con trai ở và gia đình ông H cũng chặt kè để đổ đất lấp ao và trồng cây trên thửa đất này nhưng vẫn không thấy có tranh chấp gì. Đến năm 2018 hai gia đình có tranh chấp và gia đình ông C đã chặt số cây ăn quả trên thửa đất này dẫn đến việc gia đình ông H khiếu nại đến UBND xã, ông lúc này là Công chức Tư pháp – Hộ tịch được Chủ tịch UBND xã phân công giải quyết sự việc, ông đã tiến hành hòa giải hai bên gia đình nhiều lần nhưng không có kết quả.

- Ông Nguyễn Văn H2: Gia đình ông ở cùng xóm với gia đình ông H, bà H1. Năm 2011, ông HH1 có nhờ ông chở đất bằng xe thồ lấp đất vào ao kè để trồng chuối, 2 cây si, vú sữa, bưởi, chanh lên thửa đất đã lấp ao và chính là thửa đất tranh chấp hết 1.300.000đ tiền công.

- Ông Lê Viết N2: Khoảng năm 2010 – 2011 ông có mua 4 cây kè của bà H1 để làm cốt pha xây dựng, khi trả tiền, bà H1 không có nhà nên ông đã gửi tiền cho bà T nhờ chuyển giúp cho bà H1.

- Ông Lê Hồng T1: Năm 1990 khi ông và ông Nguyễn Văn S1 đi ngang qua nhà bà N1 và được bà T mời vào ký làm chứng việc chuyển nhượng đất giữa bà N1 với bà T, khi ký giấy có cả ông Lê Văn D, Lê Văng L2Lê Văn T2 là con trai bà N1 cùng có mặt và cùng ký xác nhận. Ngoài ra còn có bà Lê Thị D2 cùng ký làm chứng trong giấy chuyển nhượng đất.

- Bà Lê Thị D2: Năm 1990 bà T có đến nhà bà nhờ bà sang nhà bà N1 để làm chứng việc chuyển nhượng đất, khi đến nhà bà N1 thì thấy có bà N1 và ông L2 là con trai bà N1, lúc đó có ông S1 đi qua cùng mời vào và sau đó có ông T1 là trưởng thôn Tống Sở đến, sau khi bà T đọc giấy nhượng đất thì bà ký vào là người làm chứng, đối với chữ ký của bà N1 do ông Lưu k thay vì bà N1 không biết chữ.

- Ông Nguyễn Văn S1: Năm 1990 khi đang trên đường đi làm về qua nhà bà N1 thì bà T có mời ông vào làm chứng việc chuyển nhượng đất giữa bà N1 với bà T. Khi vào nhà thấy có bà N1, bà T, ông L2 (con bà N1) bà D2 sau đó có thêm ông T1 là trưởng thôn đến. Sau khi bà T đọc nội dung giấy chuyển nhượng đất thì những người có mặt cùng ký vào giấy. Bà N1 không biết chữ nên con trai là ông L2 đã ký thay cho bà N1.

Bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của TAND huyện Nông Cống đã: Căn cứ vào các Điều 117; 122; 134; 135; 138; 164; 165; 166 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 169; Điều 228; Điều 229; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Lê Thị T về việc buộc ông Phùng Xuân H và bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại 99m² đất thuộc thửa đất số 814, tờ bản đồ số 7, bản đồ địa chính 2001 xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn C và bà Lê Thị T phải chịu 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) chi phí thẩm định và định giá tài sản nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí thẩm định và định giá tài sản mà người đại điện theo ủy quyền của Ông Trần Văn C và bà Lê Thị T là ông Lê Văn L đã nộp là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Ông C và bà T được nhận lại số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Ông Lê Văn L là người đại diện theo ủy quyền của ông C và bà T đã nhận đủ số tiền 6.000.000đ(Sáu triệu đồng) vào ngày 11/10/2022.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12/10/2023 nguyên đơn bà Lê Thị T kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng công nhận diện tích đất 99m2 thuộc quyền sử dụng của gia đình ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông HH1 đề nghị HĐXX căn cứ bản án hành chính phúc thẩm số 01/2019/HC-PT ngày 13/3/2020 của TAND Tỉnh Thanh Hoá và Thông báo số 37/TB-VC1-HC ngày 24/9/2020 về việc Trả lời đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trả lời ông Lê Văn L là người đại diện theo uỷ quyền của ông CT để làm căn cứ giải quyết vụ án theo hướng: Không chấp nhận kháng cáo của ông C và bà T, y án sơ thẩm của TAND huyện Nông Cống.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: năm 1990, 2 gia đình có mua lại vườn kè của bà N1 nhưng không lập hợp đồng mua bán và sử dụng chung cho đến năm 2001. Năm 2001 khi lập hồ sơ địa chính phần đất tranh chấp được tách thành 2 thửa và giao cho 2 gia đình sử dụng. Năm 2011 khi bà T chuyển quyền sử dụng thửa đất 850 cho con trai cũng không có ý kiến gì về việc thửa đất trên do ai sử dụng. Năm 2020 bà T khởi kiện hành chính về nội dung chuyển thừa đất số 814 cho gia đình ông C được xã ghi nhận là không đúng mà phải ghi chủ sử dụng là gia đình bà. Tuy nhiên nội dung khởi kiện của bà không có căn cứ chấp nhận. Trong vụ án này ông C căn cứ vào giấy chuyển nhượng đất được bà N1 là người bán đất ký xác nhận bán cho gia đình ông C thửa đất trên để cho rằng thửa đất này là của ông C mua riêng và cho gia đình ông H mượn. Tuy nhiên lời nại này không có căn cứ bởi tại thời điểm lập giấy mua bán thì bà N1 đã chết, các con của bà N1 ký hộ và khi thụ lý giải quyết cấp sơ thẩm đã triệu tập họ tham gia tố tụng và khẳng định việc mua bán này họ không biết. Từ những căn cứ trên xét thấy việc bản án sơ thẩm bác đơn khởi kiện của gia đình ông CT về việc buộc gia đình ông HH1 trả lại phần đất lấn chiếm nêu trên là có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn không nộp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn. Do đó đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống.

Về án phí: Người kháng cáo là người cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.

(Có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về trình tự kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các bên không thoả thuận được việc giải quyết vụ án nên kháng cáo của nguyên đơn được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

2. Xét kháng cáo của nguyên đơn:

2.1. Về nguồn gốc thửa đất:

Thửa đất số 814 và 850, tờ bản đồ số 7, bản đồ địa chính 2001 thuộc 1 phần thửa số 270, diện tích 468m2, tờ bản đồ số 4, bản đồ 299 năm 1987, số mục kê ghi tên Ngô Văn B. Nguồn gốc đất tại khu vực này là ao kè, đã được chia cho hộ bà Lê Thị N1 và hộ ông Trần Đại X1(là hai anh em), sau khi ông X1 đi vùng kinh tế mới thì bà N1 quản lý.

Năm 1990 bà N1 đã bán thửa đất trên cho ông CT và vợ chồng ông H1, bà H1 sử dụng. Ông C và bà T nại thửa đất được bà N1 bán riêng cho vợ chồng ông nhưng các chứng cứ ông bà đưa ra đều không có căn cứ, thể hiện sự mâu thuẫn: giấy nhượng đất viết tay ngày 06/2/1990 có chữ ký của bà N1 và các con của bà N1 tuy nhiên, giấy nhượng đất nêu trên không có xác nhận của chính quyền địa phương, cũng không có cơ sở là được xác lập năm 1990 bởi vì: anh T2 và anh D3 con của bà N1 đều xác nhận hai hàng kè của bà N1 chỉ khoảng 40,50m2 và sau khi bà N1 chết mấy năm thì bà T mới mang giấy này đề nghị các con bà N1 ký để làm trích lục. Còn vợ chồng ông HH1 thì khai đất mua chung với ông CT và khi mua không có giấy tờ, sau khi mua thì hai bên sử dụng chung, mỗi bên sử dụng 1 năm. Việc sử dụng chung đất này được nhiều người cùng thôn xác nhận.

Năm 2001 khi thực hiện nhiệm vụ đo đạc địa chính tại thửa đất hộ ông CT và hộ ông HH1 sử dụng thuộc thôn T, làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền thiết lập bản đồ địa chính, UBND xã T đã thực hiện việc đo đạc, điều chỉnh tách thửa diện tích của từng hộ đã được ghi vào Sổ địa chính và bản đồ địa chính đã được thiết lập, theo đó trong sổ địa chính xã T, thì thửa 814 mang tên ông HH1; Kể từ năm 1990 cho đến thời điểm UBND xã T tiến hành đo đạc (ngày 14/11/2001) thì cả hai gia đình vẫn đang sử dụng chung ao kè này. Khi đo đạc thì bà T là người chỉ mốc giới cho đoàn đo đạc. Theo đó việc ghi cả hai thửa 814 và 850 vào” Biên bản giao diện tích đo đạc địa chính” của hộ ông CT là không chính xác. Sau khi có sự thống nhất của ông Ngọ Trọng T5 là trưởng thôn được phân công nhiệm vụ ghi chép đã gạch bỏ điều chỉnh chuyển thửa 814 diện tích 99m2 từ hộ ông CT sang hộ ông HH1.

Cho rằng việc gạch bỏ rồi viết thêm để điều chỉnh như trên là ảnh hưởng đến quyền lợi của mình nên ngày 20/5/2019 ông C và bà T đã khởi kiện vụ án hành chính về việc: Yêu cầu huỷ toàn bộ phần gạch và viết thêm tại “Biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính” lập ngày 14/11/2001 của UBND xã T.

TAND huyện Nông Cống đã quyết định tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2019/HC-ST ngày 14/11/2019 như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Lê Thị T. Huỷ bỏ toàn bộ phần gạch và viết thêm tại

dòng kẻ thứ 6 từ trên xuống trong phần” CÁC LOẠI ĐẤT, DIỆN TÍCH SỬ DỤNG NHƯ SAU” và huỷ bỏ toàn bộ phần viết thêm tại dòng kẻ thứ 6 từ trên xuống tại “ Biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính lập ngày 14/11/2001 của UBND xã T, huyện N; giao cho UBND xã T khôi phục lại tình trạng ban đầu của hai biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính lập ngày 14/11/2001 của UBND xã T, huyện N. Gia đình ông CT và gia đình ông HH1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với UBND xã T, huyện N và các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông H và bà H1 kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá kháng nghị;

Tại bản án hành chính phúc thẩm số 01/2020/HC-PT ngày 13/3/2020 của TAND Tỉnh Thanh Hoá đã: Chấp nhận kháng cáo của ông H và bà H1. Bác đơn khởi kiện của ông C và bà T yêu cầu Toà án giải quyết: Huỷ toàn bộ phần gạch và viết thêm tại dòng kẻ thứ 6 từ trên xuống trong phần” CÁC LOẠI ĐẤT, DIỆN TÍCH SỬ DỤNG NHƯ SAU” và huỷ bỏ toàn bộ phần viết thêm tại dòng kẻ thứ 6 từ trên xuống tại “ Biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính lập ngày 14/11/2001 của UBND xã T, huyện N đối với gia đình ông Phùng Văn H3 và bà Nguyễn Thị H1.

Sau khi bản án hành chính phúc thẩm tuyên ông L là người đại diện của ông C và bà T có đơn yêu cầu kháng nghị bản án. Tại Thông báo số 37 ngày 24/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã kết luận: Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét quá trình sử dụng đất của hai bên mà chỉ cho rằng hành vi của UBND xã T gạch, viết thêm vào hai biên bản là không hợp pháp và chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện là chưa đủ cơ sở, cấp phúc thẩm đã bổ sung đầy đủ tài liệu chứng cứ qua đó chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông H3 và bà H1; bác đơn khởi kiện của ông C và bà T là có cơ sở,

Căn cứ vào Điều 79 của Luật tố tụng hành chính về: Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì: “a)...b): Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”

Như vậy, nguồn gốc thửa đất là do ông CT và ông H3H1 cùng mua của bà N1, tuy nhiên quyền sử dụng đất của ông CT đã được xác định tại “Biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính lập ngày 14/11/2001” của UBND xã T là đối với thửa đất 850 chứ không phải thửa 814.

2.2 Ông C và bà T cho rằng sau khi mua của bà N1 thì đã cho ông H3H1 mượn để canh tác nên đã khởi kiện để yêu cầu buộc ông H3H1 trả lại thửa đất này: Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, ông CT và người đại diện theo ủy quyền là ông L không hề xuất trình được chứng cứ chứng minh nội dung này, không có giấy tờ cho mượn, không có người làm chứng; Những hàng xóm của cả hai bên đều thừa nhận các bên sử dụng chung sau đó từ năm 2011 thì chỉ còn mình gia đình bà H1 sử dụng đất. Do không có căn cứ của việc cho mượn đất

nên yêu cầu của ông CT không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là hoàn toàn có cơ sở.

2.3 Xét các kháng cáo của bà T:

T cho rằng bản án sơ thẩm sai phạm cần phải huỷ vì các lý do sau:

+ Việc đánh giá chứng cứ thiếu khách quan: HĐXX sơ thẩm đã bỏ qua tất cả các tài liệu chứng cứ quan trọng mà người khởi kiện đã cung cấp cho Toà án như biên bản ghi lời khai của Nguyễn Thị H1 tại cơ quan công an ngày 06/8/2012; Biên bản đối thoại 1,2,3 tại Toà án nhân dân huyện Nông Cống ngay 09/7/2019; 14/9/2019; 10/10/2019; biên bản bàn giao diện tích đo đạc địa chính ngày 14/11/2001, chứng cứ báo cáo xác nhận của Lê Quang T6Lê Kim P... tuy nhiên nguồn chứng cứ này đã được nhận định và đánh giá tại bản án hành chính sơ thẩm của TAND huyện Nông Cống và TAND tỉnh Thanh Hoá. Mặt khác, đây không phải là nguồn chứng cứ duy nhất để toà án xem xét và đưa ra quyết định. Thực tế tại hai cấp xét xử, HĐXX đã sử dụng nhiều loại chứng cứ khác nhau để xem xét và nhận định, nên trình bày trên của ông CT là không có căn cứ,

+ Ngoài ra bà T còn nại một số nội dung khác cũng nhằm mục đích cho rằng thửa đất 814 là của gia đình ông mua riêng của bà N1 và việc UBND xã T có hành vi gạch bỏ và viết thêm nội dung chuyển từ ông CT sang ông H3T7 là không đúng:

HĐXX xét thấy: Nội dung này đã được làm sáng tỏ tại bản án hành chính phúc thẩm số 01/2020/HC-PT ngày 13/3/2020 của TAND Tỉnh Thanh Hoá. Tại bản án này đã nhận định: Thứ nhất, vợ chồng ông mua đất của bà N1 có giấy tờ viết tay ngày 06/12/1990 có chữ ký của bà N1 và các con là: Lê Văn L1, Lê Văn D4, Lê Đại T3 và người làm chứng là Lê Thị D5 và trưởng thôn Lê Hồng T1. Tuy nhiên anh Lê Văn D4 đã trình bày là sau khi mẹ anh mất khoảng 3, 4 năm thì bà T mới mang giấy mua bán đến để đề nghị anh em xác nhận để làm trích lục; anh D4 và anh T3 còn trình bày bà N1 bán hai hàng kè chỉ có diện tích khoảng 40-50m2 chứ không phải 99m2; anh L1 cũng khẳng định chữ ký và chữ viết trong giấy trên không phải chữ viết và chữ ký của bà N1.

Thứ hai, việc sử dụng thửa đất ao kè là cả hai nhà cùng sử dụng từ năm 1990 và việc này được hàng xóm liền kề của hai gia đình cùng xác nhận. Sau khi xác định quyền sử dụng đất tại thời điểm đo đạc năm 2001 thì chỉ còn một mình gia đình ông H3H1 sử dụng, ông bà đã chặt kè, đổ đất, trồng các loại cây khác. Tại phiên tòa phúc thẩm người làm chứng là ông Nguyễn Văn H2 là hàng xóm của cả hai bên tiếp tục khẳng định năm 2011 ông H3H1 đã thuê ông lấp ao kè này để trồng chuối và các loại cây ăn quả khác tại thửa đất này.

Như vậy, kháng cáo của bà T là không có cơ sở để chấp nhận do đó bác toàn bộ kháng cáo hủy án sơ thẩm của bà T.

3. Án phí dân sự phúc thẩm:T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực pháp luật nên không xem xét;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH :

1.Căn cứ : Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DSST ngày 29/9/2023 về Tranh chấp quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân thành huyện Nông Cống như sau:

Căn cứ vào các Điều 117; 122; 134; 135; 138; 164; 165; 166 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 169; Điều 228; Điều 229; Điều 273của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C và bà Lê Thị T về việc buộc ông Phùng Xuân H và bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại 99m² đất thuộc thửa đất số 814, tờ bản đồ số 7, bản đồ địa chính 2001 xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội: Bà T là người cao tuổi nên không phải chịu án phí DSPT;

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực pháp luật nên không xem xét;

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - TAND, VKSND huyện Nông Cống;
  • - Chi cụ Thi hành án DS huyện Nông Cống;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 13/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C - Phùng Xuân H "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger