Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 13/2024/DS-PT

Ngày: 06-5-2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất và tài sản trên đất.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang; ông Hoàng Ngọc Tùng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2023/TLPT-DS ngày 21/12/2023 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2024/QĐXX-PT ngày 22 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Bùi Đức L, sinh năm: 1962 và bà Phạm Thị H1, sinh năm: 1963; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Vinh D, sinh năm: 1977; bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm: 1992; bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1993 và ông Ngô Chiến T1, sinh năm 1999; địa chỉ: P, tòa nhà Y, số I, đường N, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (có mặt bà Nguyễn Thị Lệ T; vắng mặt ông Nguyễn Vinh D, bà Nguyễn Thị A và ông Ngô Chiến T1).

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1955 và bà Bùi Thị T3, sinh năm: 1958; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
  4. Người đại diện theo ủy quyền:

    Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

    Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Trần Thị M, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
    • - Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ B, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
    • - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; địa chỉ: Số I đường T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
    • - Ông Nguyễn Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Hẻm A, đường T, ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
    • - Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: G khu phố C, đường A, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
    • - Anh Bùi Đức D1, sinh năm: 1988; địa chỉ: Khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
    • - Chị Bùi Thị H4, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
    • - Chị Bùi Thị H5, sinh năm 1933; địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
    • - Anh Bùi Đức V, sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
    • - Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
    • - Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1988; địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
    • - Anh Nguyễn Xuân T6, sinh năm: 1985; địa chỉ: Chung cư B - D - P, phường G, quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
    • - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
    • - Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
    • Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thành N1, chức vụ: Chuyên viên Phòng T13. Có mặt

    • - Chi nhánh Văn phòng Đ2 - Đ
    • Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tiến M1, Chức vụ: Chuyên viên. Có mặt

    • - Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Huy H6, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh vụ án có nội dung như sau:

1. Nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 trình bày:\

Năm 1998, có 09 hộ dân thuộc thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (trong đó có hộ gia đình ông L, bà H1 và hộ gia đình bị đơn ông Nguyễn Xuân T2) được Ủy ban nhân dân xã S giao 12ha đất rừng thông có địa chỉ tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để chăm sóc, bảo vệ rừng. 06 hộ dân còn lại cùng được giao rừng bảo vệ là ông Nguyễn Xuân M2, ông Nguyễn Đ1, ông Bùi Đức T7, ông Bùi Đức A1, bà Bùi Thị T8, ông Nguyễn T9 (đều trú tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

Đến năm 2004, diện tích rừng thông của 09 hộ dân chăm sóc, bảo vệ bị cháy một nửa. Để đảm bảo công bằng, 09 hộ dân đã thỏa thuận với nhau sẽ gộp chung diện tích của 09 hộ và chia đều thành 18 phần (trong đó có 9 phần ở diện tích rừng bị cháy và 09 phần ở diện tích rừng không bị cháy) rồi tiến hành bốc thăm để chia phần để mỗi hộ tự chăm sóc, bảo vệ theo phần riêng. Mỗi hộ sẽ bốc thăm 01 phần ở diện tích rừng bị cháy và 01 phần ở diện tích rừng không bị cháy. Sau khi bốc thăm thì ở phần diện tích rừng bị cháy các hộ dân đã tiến hành trồng cây keo tràm (cây keo tràm do UBND xã cung cấp cây giống) để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, còn đối với phần diện tích rừng không bị cháy thì các hộ tiếp tục chăm sóc, bảo vệ.

Kết quả bốc thăm thì phần diện tích rừng bốc thăm được của cả ông L, bà H1 và ông T2 mỗi hộ gia đình được 03 phần gần nhau ở phía rừng thông bị cháy và rừng thông không bị cháy, tạo thành 02 thửa lớn, mỗi thửa khoảng hơn 15.000m².

Năm 2015, Nhà nước có chính sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất rừng cho các hộ dân nói trên. Thời điểm này, bà H1 đi vào thành phố Hồ Chí Minh để thăm con nên không có mặt tại địa phương, nên ông L và ông T2 đã bàn bạc và thống nhất riêng với nhau về việc sẽ gộp chung 03 thửa của cả 03 hộ ông L, bà H1, ông T2 ở phần diện tích bị cháy sẽ do ông L đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn ông T2 sẽ đứng trên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất còn lại của 03 hộ ông L, bà H1, ông T2 ở phần diện tích rừng không bị cháy. Tuy nhiên, thực tế ông L, ông T2 thống nhất ông L, ông T2 và bà H1 vẫn có quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất mà mỗi gia đình đã bốc thăm được trước đây. Việc thỏa thuận chỉ giữa ông L và ông T2 chỉ bằng miệng mà không có văn bản, còn bà H1 hoàn toàn không biết.

Sau khi ông L và ông T2 thỏa thuận như trên Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750823, ngày 11/11/2015 cho ông Bùi Đức L và bà Trần Thị M (vợ ông L) đối với phần diện tích đất 15.235,6m², tại thửa số 59, tờ bản đồ 147, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825, ngày 11/11/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2 và bà Bùi Thị T3 (vợ ông T2) đối với phần diện tích đất 15.850,5m², tại thửa số 61, tờ bản đồ 147, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi được giao đất thì gia đình ông L, ông T2 vẫn tiến hành khai thác T10 và nhựa thông trên phần diện tích đất của mình. Sau đó, bà Phạm Thị H1 ở thành phố Hồ Chí Minh trở về thì bà H1 tiếp tục quản lý, khai thác tràm ở phần diện tích đất ông L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn phần diện tích đất trồng cây thông do ông T2 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T2, ông L, bà H1 quản lý. Sau đó, ông Nguyễn Xuân T2 đã tiến hành khai thác toàn bộ cây thông trên diện tích thửa dất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m² cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T2, bà T3 mà không được sự đồng ý của ông L, bà H1 và đã xảy ra tranh chấp với gia đình ông L, bà H1. Việc tranh chấp đã được UBND xã S hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Trong khi đó thửa đất số 59, tờ bản đồ số 147, diện tích 15.235,6m² cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông L, bà M thì ông L và bà H1 thống nhất chia 1/3 đất cho ông T2 và ông T2 đồng ý nhận diện tích đất này.

Vì thửa đất số 61, tờ bản đồ số 147, diện tích 15.850,5m² cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/11/2015 đứng tên ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 thuộc quyền sử dụng chung của 03 người là ông Nguyễn Xuân T2, Phạm Thị H1 và Bùi Đức L. Nhưng hiện nay ông Nguyễn Xuân T2 đòi chiếm toàn bộ thửa đất và khai thác cây thông trên diện tích đất này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L, bà H1. Vì vậy ông L, bà H1 làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án: Buộc ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 trả lại cho ông L, bà H1 2/3 phần diện tích đất rừng tương đương 10.567m² trong tổng diện tích đất 15.850,5m² tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 147, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; và buộc ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 phải trả lại cho ông L, bà H1 mỗi người 1/3 giá trị tiền cây tương đương 23.330.000đ mà ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 đã bán cho ông Bùi Đức T7 với giá 70.000.000đ, trên thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m² tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau đó ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1 có đơn khởi kiện bổ sung (trước thời điểm Tòa án mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ) để yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • + Yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 đối với thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m² tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750823 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Bùi Đức T11, bà Trần Thị M đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ 147, diện tích 15.235,6m² tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị đơn ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 trình bày:

Ông T2, bà T3 hoàn toàn đồng ý với nội dung trình bày của nguyên đơn về việc vào năm 1998 bị đơn cùng với nguyên đơn và 06 hộ dân khác tại thôn V, xã S được UBND xã S, huyện H giao khoảng 12ha diện tích rừng thông để chăm sóc, bảo vệ (được khai thác củi khô trên khu vực nhận chăm sóc, bảo vệ). Đến năm 2002 thì UBND xã S cho các hộ dân khai thác nhựa để bán hộ gia đình được nhận tiền, nhưng xã có thu 30% lợi nhuận. Sau đó rừng thông bị cháy một nữa (nữa đằng sau) nên xã đã đình chỉ không cho khai thác nhựa nữa, đối với rừng thông bị cháy thì xã đã bán cây thông bị cháy và cấp tiền cho các hộ dân để mua tràm về để trồng lên phần diện tích đất rừng thông đã bị cháy, nên 09 hộ dân đã bàn bạc chia đất theo từng hộ một, phần rừng thông bị cháy chia làm 09 phần, phần rừng thông không bị cháy chia làm 09 phần, rồi tiền hành bốc thăm, mỗi hộ được hai phần (phần bị cháy một phần và phần không bị cháy một phần) để mỗi hộ tự quản lý, bảo vệ rừng; theo kết quả bốc thăm thì phần diện tích của nguyên đơn và bị đơn là gần nhau ở cả phần diện tích rừng bị cháy và phần diện tích rừng không bị cháy. Sau đó thì phần rừng thông bị cháy tiến hành trồng tràm, còn phần rừng thông còn lại thì tiếp tục bảo vệ. Đến cuối năm 2013 thì Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho từng hộ dân với lệ phí mỗi hộ dân phải nộp là 1.200.000đ/ha, nhưng các hộ dân không ai đồng ý, nên việc triển khai giao đất, giao rừng không thành, sau đó thì chính quyền giảm xuống 1ha phải nộp khoảng 500.000đ nên một số hộ dân thì đồng ý nhận, một số hộ dân không đồng ý nhận, còn bản thân bị đơn thì đồng ý nhận nên đã viết đơn xin cấp đất. Sau đó thì gia đình bị đơn được chính quyền cấp phần diện tích đất như phần diện đất hiện nay mà gia đình bị đơn đang sử dụng. Còn việc thỏa thuận với ông Bùi Đức L như ông L trình bày là hoàn toàn không có, gia đình bị đơn tự kê khai và được chính quyền cấp chứ hoàn toàn không có bất cứ thỏa thuận nào với ông L cả.

Bị đơn cho rằng sở dĩ bà H1 không được cấp đất vì khi chính quyền phổ biến về việc giao đất giao rừng thì bà H1 có ý kiến không có nguyện vọng nhận rừng, mặc dù chính quyền đã vận động, bản thân bị đơn (ông T2) cũng đã đến vận động vì bà H1 là vợ em trai ông T2, nhưng bà H1 cũng một mực không nhận, nên không làm đơn dẫn đến việc không được cấp. Chứ không có việc tại thời điểm chính quyền tổ chức giao đất, giao rừng bà H1 đang ở thành phố Hồ Chí Minh như bà H1 và ông L trình bày. Về mặt quan hệ họ hàng thì bị đơn đang anh em nội tộc với bà H1 (ông T2 là anh trai của chồng bà H1, hiện chồng bà H1 đã mất), thì không có lý gì bị đơn lại đi thỏa thuận với ông L (là người hoàn toàn không có quan hệ anh em gì với bị đơn) để lấy đất của bà H1 như quan điểm của bà H1 và ông L cả. Mặt khác việc cấp đất giao đất, giao rừng được tổ chức đại trà cho toàn thể các hộ dân có đủ điều kiện được xem xét giao đất, giao rừng, nên cũng không thể có việc bị đơn và ông L có thể tự thỏa thuận để lấy đất của bà H1 được.

Do vậy, bị đơn không chấp nhận bất cứ nội dung khởi kiện nào của ông L và bà H1, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T4, anh Nguyễn Q, chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân Đ trình bày: Nhất trí như ý kiến, quan điểm trình bày của bà H1 và không có gì bổ sung thêm.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Đức V, chị Bùi Thị H5, anh Bùi Đức D1, chị Bùi Thị H4 và bà Trần Thị M trình bày: Nhất trí như ý kiến, quan điểm trình bày của ông L và không có gì bổ sung thêm.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân T6, anh Nguyễn Xuân H2, chị Nguyễn Thị H3 trình bày: Nhất trí như ý kiến, quan điểm trình bày của ông T2 và bà T3 và không có gì bổ sung thêm.
  • - Đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trình bày:
  • Việc nguyên đơn và bị đơn cùng 06 hộ dân khác ở thôn V được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng thông vào năm 1998 như các bên trình bày là hoàn toàn đúng với thực tế. Thời điểm năm 1998 chỉ đơn thuần là giao cho các hộ dân ở gần khu vực rừng thông phải có trách nhiệm bảo vệ, phòng chóng cháy rừng chứ hoàn toàn không giao đất, giao cây thông cho các hộ dân được toàn quyền sử dụng, vì UBND xã hoàn toàn không có thẩm quyền giao đất và tài sản trên đất. Đến năm 2013 khi UBND tỉnh H có Quyết định 3952/QĐ-UBND ngày 06/12/2013 về việc phê duyệt đề án giao đất, cho thuê đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013 - 2014 (Chứ không phải là năm 2015 mới có thủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ dân như nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện). Thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên thì UBND xã đã triển khai đúng về trình tự thủ tục giao đất, giao rừng cho các hộ dân theo Quyết định 3952 của UBND tỉnh. Quá trình tiến hành giao đất, giao rừng cho các hộ dân được triển khai đại trà trên địa bàn toàn xã và được thực hiện một cách khách quan, thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng, có tổ chức họp thôn, có niêm yết công khai các thủ tục, có giao đất thực địa nhưng UBND xã hoàn toàn không nhận được bất cứ một khiếu nại nào cả liên quan đến quá trình cấp đất. Bản thân bà Phạm Thị H1 thì lúc đầu vẫn có tên trong danh sách đủ điều kiện được xem xét giao đất, giao rừng (vì gia đình bà H1 cũng là một trong 9 hộ dân tham gia bảo vệ rừng thông từ năm 1998), tuy nhiên sau đó khi cán bộ xã đến tuyên truyền, vận động và giải chính sách giao đất, giao rừng cho hộ dân thì bà H1 nói không có nhu cầu sử dụng nên đã không làm đơn nên dẫn đến đã không được cấp đất, chứ hoàn toàn không có việc bà H1 đi miền nam nên không biết về chủ trương giao đất, giao rừng như bà H1, ông L trình bày. Còn ông Bùi Đức L tại thời điểm đó đã kê khai đầy đủ và được cấp phần diện tích đất rừng đúng như ông L đã kê khai, nay ông L lại tiếp tục khởi kiện là điều phi lý, không tôn trọng chính quyền. Do vậy, UBND xã cho rằng việc khởi kiện của ông L, bà H1 là hoàn toàn không có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, theo đúng quy định của pháp luật.

  • - Đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Chi nhánh H8 - Đ trình bày:
  • Các tài liệu liên quan đến quá trình cấp đất cho các hộ dân liên quan trong vụ án thì Văn phòng đã cung cấp đầy đủ theo yêu cầu của Tòa án. Tại thời điểm cấp đất cho các hộ dân thì Văn phòng chưa được thành lập, tuy nhiên dựa trên toàn bộ hộ sơ lưu trữ tại Văn phòng thì Văn phòng khẳng định của trình cấp đất theo Quyết định 3952 cho các hộ dân là hoàn toàn đúng về trình tự, thủ tục, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  • - Đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trình bày:
  • Quá trình cấp đất cho các hộ gia đình ông Bùi Đức L, bà Trần Thị M và ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 là hoàn toàn đúng về thẩm quyền và trình tự thủ tục, quá trình cấp đất diễn ra công khai, được niêm yết đầy đủ, theo đúng nguyện vọng của người dân (theo đơn yêu cầu) các hồ sơ tài liệu liên quan thì đã được UBND xã S và Văn phòng Đ2 Chi nhánh H8 - Đ cung cấp đầy đủ cho Tòa án. Do vậy, việc các nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn không có căn cứ, nên đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nhằm ổn định tình hình địa phương.

Với nội dung vụ án trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 169 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 203; Điều 166, 170 Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lệ phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2023 nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 07/2023/DSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.
  2. Đối với việc xác định quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại khoản 9 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

  3. [2] Đối với nội dung yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 đối với thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m2 tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750823 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Bùi Đức T11, bà Trần Thị M đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ 147, diện tích 15.235,6m2 tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Hội đồng xét xử xét thấy:
  4. Ngày 14/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn đã có văn bản chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh xem xét giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Hướng dẫn giải đáp nghiệp vụ số 02/2016 ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn: “trường hợp khi giải quyết vụ, việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt nhưng không cần thiết phải hủy quyết định cá biệt đó và việc không hủy quyết định cá biệt đó vẫn đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ, việc dân sự đó tiếp tục giải quyết”, ngày 14/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh đã có công văn số 246/CV-TA về việc chuyển trả hồ sơ vụ án để Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung, xét thấy việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là không có căn cứ nên Tòa án nhân dân tỉnh chuyển trả lại hồ sơ vụ án để giải quyết lại theo thủ tục chung là đúng quy định tại Điều 36, 39 Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án.

  5. [3] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
    1. [3.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Năm 1998 Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã giao cho 09 hộ dân tại thôn V, xã S trong đó có gia đình ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1 và bị đơn ông Nguyễn Xuân T2 12ha đất rừng thông để chăm sóc và bảo vệ trong đó có phần đất tranh chấp. Việc giao chăm sóc và bảo vệ của UBND xã S cho các hộ dân là giao trách nhiệm chung cho các hộ dân ở gần khu vực rừng thông phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ phòng chống cháy rừng chứ không có văn bản gì.
    2. Năm 2004, diện tích rừng thông bị cháy một phần, nên 09 hộ dân đã tự bàn bạc chia đất theo đó mỗi hộ được 1 phần bị cháy và 1 phần không bị cháy và tiến hành bốc thăm. Kết quả bốc thăm thì hộ gia đình ông L, bà H1 và ông T2 bốc thăm được 03 phần gần nhau ở cả khu vực rừng thông bị cháy và không bị cháy. Đối với phần rừng thông bị cháy thì các hộ tiến hành trồng tràm, còn phần rừng thông không bị cháy thì tiếp tục bảo vệ.

      Năm 2013, thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án giao đất, cho thuê đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2013-2014 theo Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 6/12/2013. UBND xã S đã triển khai đến từng hộ gia đình được giao đất bảo vệ rừng để làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 11/11/2015 thì phần diện tích đất đang tranh chấp trên được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825 thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/cho ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750823 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ 147, diện tích 15.235,6m2 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Bùi Đức T11, bà Trần Thị M tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

      Về nguồn gốc đất, quá trình quản lý sử dụng đất đều được ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1, bị đơn ông Nguyễn Xuân T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã S, UBND huyện H thống nhất thừa nhận đây được xem là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    3. [3.2] Thực hiện Quyết định số 3952/QĐ-UBND ngày 6/12/2013 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án giao đất, cho thuê đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn 2013-2014. UBND đã tiến hành triển khai, thực hiện, được thể hiện tại hồ sơ phương án giao đất, giao rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân xã S. Thủ tục, trình tự triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm: Tờ trình phê duyệt phương án giao đất; Quyết định kiện toàn hội đồng giao đất, giao rừng; Biên bản họp hội đồng tư vấn giao đất lầm nghiệp ngày 5/6/2013...Điều chỉnh phương án giao đất, giao rừng; Biên bản công khai danh sách các trường hợp đủ điều kiện, chưa đủ điều kiện giao đất giao rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm rà soát đối tượng, UBND xã S đã lập danh sách phân loại đối tượng. Trong đó hộ gia đình ông L, bà H1 và ông T2 thuộc đối tượng diện tích UBND xã quản lý chưa giao nay đưa vào phương án giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại văn bản số 01/PA GR ngày 20/2/2014, UBND xã S lập danh sách dự kiến giao đất rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên hộ bà P H7, ông T2, ông L. Như vậy, tại thời điểm lập hồ sơ, phương án giao đất lâm nghiệp cả nguyên đơn, bị đơn đều thuộc đối tượng giao đất, có tên trong danh sách rà soát đối tượng được giao đất của UBND xã S (ngày 20/02/2014).
    4. Việc bà H7 cho rằng thời điểm Chính quyền phổ biến giao đất, giao rừng bà H7 đang đi chăm cháu trong Miền Nam, bà không hề biết chủ trương giao đất để làm đơn đề nghị giao là không có căn cứ bởi cùng với việc xem xét, rà soát các đối tượng giao đất lâm nghiệp, UBND xã S tiến hành cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 01/6/2014 bà có làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 44, 85, 88...mà hộ gia đình bà đang quản lý sử dụng.

      Ngày 01/04/2014, bà Phạm Thị H1 ký vào bản Kết quả đo đạc địa chính thửa đất ngày 01/4/2014. Thời điểm bà H1 làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng là thời điểm UBND xã S, yêu cầu các hộ dân đang quản lý đất rừng (chưa có quyết định giao đất), làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thể hiện tại biên bản họp xóm về việc giao đất, giao rừng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp vào ngày 17/3/2014 tại Nhà văn hóa thôn V1.

      Tại phiên tòa hôm nay bà cho rằng trong thời gian này bà có đi vào miền nam một vài lần. Do đó, có căn cứ khẳng định từ đầu năm 2014 đến tháng 6/2014 bà Phạm Thị H1 đang ở nhà, chưa vào M. Việc triển khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp phổ biến rộng rãi tại thôn, xóm nên bà H1 buộc phải biết chủ trương trên của UBND xã S. Thời điểm tháng 6/2014, bà H1 làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở, nhưng bà không làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp là mặc nhiên bà H1 đã từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình đối với diện tích đất lâm nghiệp mình được giao khoán bảo vệ rừng mà hiện nay đang tranh chấp. Quá trình lập hồ sơ giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND xã S đã tuyên truyền, vận động nhưng bà H1 không làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên UBND xã S đã đưa tên bà H1 ra khỏi danh sách đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp đối với thửa đất số 168, thôn V, xã S.

      Tại Giấy xác nhận của ông Lê Anh T12 – Cán bộ Lâm nghiệp xã được giao nhiệm vụ giao đất, giao rừng, ông T12 khẳng định “...Tôi lúc đó là cán bộ lâm nghiệp xã được giao nhiệm vụ giao đất, giao rừng cho đúng tiến độ của nhà nước đề ra. Tôi đã trực tiếp đến từng nhà hộ dân để thông báo họp và vận động làm hồ sơ giao đất và giao rừng, trong quá trình vận động đã đốc thúc các hộ và tổ chức các cuộc họp có sự tham gia đầy đủ của các cấp huyện, xã về dự họp. Thời gian đó trực tiếp đến nhà các hộ dân vận động làm đơn cho đúng tiến độ. Có trường hợp bà Phạm Thị H1 đã từ chối (hiện nay gia đình bà không có nhân lực làm rừng) nên bà không làm đơn đề nghị cấp đất giao rừng. Đến thời điểm lập hồ sơ thiết kế đo đạc để nạp lệ phí thì tôi đã đến nhà bà Phạm Thị H1 lần cuối đã từ chối không nhận rừng và không làm hồ sơ”.

      Việc xác nhận của ông Lê Anh T12 phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Xuân T2 và lời khai của UBND xã S, do đó đủ cơ sở khẳng định việc bà H1 hoàn toàn biết chủ trương giao đất rừng của UBND xã nhưng bà H1 từ chối không nhận, không làm đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; diện tích đất rừng bà H1 sử dụng là đất do UBND xã S quản lý, bà H1 chưa được nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất này. Mặc dù ông L cho rằng ba hộ gia đình ông L, ông T2, bà H1 thống nhất thoả thuận cho ông L, ông T2 đứng tên nhưng việc thoả thuận này không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.

      Do đó, không có căn cứ xem xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về yêu cầu buộc ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 trả lại cho ông L, bà H1 2/3 phần diện tích đất rừng tương đương 10.567m2 trong tổng diện tích đất 15.850,5m2 tại thửa đất số 61, tờ bản đồ số 147, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 đối với thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m2 tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750823 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/11/2015 cho ông Bùi Đức T11, bà Trần Thị M đối với thửa đất số 59, tờ bản đồ 147, diện tích 15.235,6m2 tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

    5. [2.3] Về yêu cầu buộc ông T11, bà T3 phải trả lại cho ông L, bà H1 mỗi người 1/3 giá trị tiền cây tương đương 23.330.000đ mà ông T11, bà T3 đã bán cho ông Bùi Đức T7 với giá 70.000.000đ, trên thửa đất số 61, tờ bản đồ 147, diện tích 15.850,5m2 tại thôn V, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, hội đồng xét xử xét thấy:
    6. Năm 1998, UBND xã S giao đất cho các hộ gia đình trong đó có hộ ông L, ông T11, bà H1 nhằm mục đích quản lý, bảo vệ rừng, khai thác mủ thông lấy sản phẩm để chia phần trăm. Số lượng cây thông trên vùng đất được giao này là cây thông do UBND xã trồng và giao lại cho các hộ quản lý, không thuộc quyền sở hữu của hộ gia đình nào, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Đức L và bị đơn ông Nguyễn Xuân T2 thừa nhận số lượng cây thông này là của UBND xã S. Bà Phạm Thị H1 cho rằng mặc dù các cây thông này do Nhà nước trồng từ trước thời điểm năm 1998 nên thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng sau đó (năm 2004) khi các hộ dân đã tự phân chia mỗi người một phần diện tích đất thì số cây thông đã thuộc quyền sở hữu của mỗi hộ gia đình tương ứng diện tích đất mỗi hộ dân bốc thăm được (BL 562). Tuy nhiên, từ năm 1998 khi giao đất rừng khai thác mủ thông đến thời điểm lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015, UBND xã S không có bất kỳ văn bản nào cho các hộ gia đình, cá nhân được quyền sử dụng, định đoạt đối với số cây thông trên phần đất được giao. Việc 09 hộ dân trước đó chỉ được giao trách nhiệm bảo vệ để phòng chống cháy rừng, rồi sau đó tự phân chia không phải là căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu đối với số cây thông. Mặt khác, khi tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 750825, ngày 11/11/2015 cho ông T2, bà T3 hoàn toàn không ảnh hưởng đến bất cứ tài sản nào trên đất thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn ông L, bà H1. Đến thời điểm ngày 11/11/2015 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2, bà T3 cùng với toàn bộ tài sản trên đất (cây thông) thì lúc này Nhà nước đã đồng ý chuyển quyền sở hữu số cây thông cho ông T2, bà T3, nên ông T2, bà T3 có quyền sử dụng, sở hữu đối với số cây thông, nên việc vào năm 2020 gia đình ông T2, bà T3 tiến hành khai thác toàn bộ số cây thông mà mình được Nhà nước giao quyền sở hữu để chuyển sang trồng cây keo tràm, trên cơ sở có sự đồng ý cho khai thác của Hạt Kiểm lâm huyện H và UBND xã S là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và ông T2, bà T3 có toàn quyền sử dụng đối với số tiền 70.000.000đ có được từ việc bán số cây thông của mình đã được nhà nước giao quyền sở hữu. Việc bà Phạm Thị H1, ông Bùi Đức L khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 phải trả lại cho ông L, bà H1 mỗi người 1/3 giá trị tiền cây tương đương 23.330.000₫ mà ông Nguyễn Xuân T2, bà Bùi Thị T3 đã bán cho ông Bùi Đức T7 với giá 70.000.000đ là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những phân tích, lập luận trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:

  1. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 07/2023/DSST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
  2. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163; Điều 164; Điều 166; Điều 169 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 203; Điều 166; 170 Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1.

  4. Về án phí, lệ phí:
    • * Về chi phí tố tụng: Buộc ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1 phải chịu 10.736.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền tạm ứng tại Tòa án.
    • * Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn ông Bùi Đức L và bà Phạm Thị H1. Trả lại cho ông Bùi Đức L, bà Phạm Thị H1 số tiền 1.580.000đ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0006257 ngày 21/10/2021; trả lại cho ông Bùi Đức L số tiền 583.000đ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0006266 ngày 29/11/2021; trả lại cho bà Phạm Thị H1 số tiền 583.000đ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0006265 ngày 29/11/2021.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TA, THA sơ thẩm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất

  • Số bản án: 13/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Đức L và ông Nguyễn Xuân T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger